Kinh Thắng Man Phu Nhân Hội

KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI (P.5)

01/04/2017

ĐẠI CHÚNG THẤY ĐIỀM LÀNH PHÁT NGUYỆN THEO

- Thế Tôn ! Nếu hiện tại và vị lai mà nhiếp thọ chánh pháp thì chư vị Bồ tát sẽ được đầy đủ lợi ích rộng lớn không có bờ mé. Con phát các thệ nguyện này, dù thánh chủ Thế Tôn đã chứng tri, nhưng với các chúng sanh căn lành cạn mỏng, có người sẽ khởi lưới nghi. Vì 10 điều thệ nguyện này khó thành tựu nên các người đó đêm dài tập quen với pháp bất thiện, sẽ chịu nhiều khổ não. Vì muốn lợi ích hơn cho họ, nay đối trước Phật con xin chân thành phát nguyện. Bạch Thế Tôn! Con nay phát 10 thệ nguyện này, nếu chân thật chẳng hư dối thì trước đại chúng đây, hoa trời sẽ rơi, âm thanh vi diệu của trời sẽ trổi.

Đây là lời gút kết của phu nhân Thắng Man: Nếu như 10 điều bà nguyện đây là chân thật không hư dối thì xin cho hoa trời mưa xuống, nhạc trời trổi lên để chứng minh điều bà đã thệ nguyện. CHÂN THẬT KHÔNG HƯ DỐI là, bà đã phát nguyện thì nhất định bà sẽ làm được và những lời hoằng thệ đó là phương tiện đúng đắn dẫn bà đến cứu cánh. Bà xin như vậy để làm gì? Để khuyến dụ mấy vị căn lành cạn mỏng, là chỉ cho mấy vị còn vướng nặng ở tướng bên ngoài. Vì sao lại chấp vào tướng bên ngoài? Vì không đủ trí tuệ.

Những gì phu nhân vừa nói, Phật đều chứng tri vì Phật có trí tuệ nhìn thấu tất cả. Nhưng với người căn lành cạn mỏng thì khác. Vì không đủ trí tuệ nên các vị chỉ biết dựa vào những hình thức bên ngoài. Với hình tướng của một người nữ lại là một vị vương phi giàu sang phú quí, nói đến chuyện tu hành đã là khó, huống là nguyện làm những điều quá khó làm. Vì thế những hiện tướng như hoa trời rơi, âm thanh vi diệu trổi… là việc cần thiết. Bà phải nương vào những ảnh tượng đó để khuyến dụ tha nhân. Phần sau chứng minh điều bà làm không hề dư thừa.

Phu nhân Thắng Man ở trước Như Lai vừa dứt lời xong, thì trên hư không mưa hoa liền rơi, âm thanh vi diệu cõi trời liền trổi với lời khen ngợi:

- Lành thay, phu nhân Thắng Man! Đúng như lời bà nói, chân thật không có đổi khác.

Khi chúng hội thấy điềm lành đó, tâm không còn nghi hoặc mà rất vui mừng, đồng thanh xướng lên:

Nguyện cùng phu nhân Thắng Man sanh ra chỗ nào cũng cùng chung hạnh nguyện.

Phật Thế Tôn thọ ký cho họ được như sở nguyện.

Dù trước đó Phật đã xác nhận phu nhân sẽ thành Phật ở cõi đó vào thời gian đó, nhưng khi Thắng Man phát lời thệ nguyện, hội chúng nghe thì nghe, mà tin thì không dám tin. Đúng như điều bà đã dự đoán. Những lời bà nói ra chỉ có Phật mới chứng tri được, còn chúng hội thì phải “Thấy điềm lành đó, tâm không còn nghi hoặc mà rất vui mừng, đồng thanh xướng lên rằng …”. Nhờ thấy điềm lành đó, chúng hội mới chịu tin. Song nhờ vậy, ta mới thấy mình có phần: Người dù căn lành cạn mỏng bao nhiêu cũng có thể thọ 10 hoằng thệ này. Chỉ cần có niềm tin và có quyết tâm thì sẽ làm được. Không phải chỉ người có trí tuệ như phu nhân Thắng Man mới dám thệ nguyện.

ĐIỀM LÀNH nói đây là chỉ cho những duyên giúp cho một vị Bồ tát thực hành bi nguyện của mình được vuông tròn. Nếu thực là một vị có công phu đắc lực, có lòng tha thiết đối với vấn đề lợi ích cho tha nhân, thì mình sẽ có được những phần duyên trợ giúp này. Nó không hẳn chỉ nằm ở việc hoa trời rơi hay nhạc trời nổi mà rất nhiều hình thức bình thường khác. Có khi chỉ là một duyên bình thường khiến lời nói của mình có giá trị để người phát niềm tin thuận theo, khiến việc nhiếp hóa được dễ dàng.

Cha anh bạn tôi là một người rất thực tế. Nói thực tế vì ông không tin vào việc phước thiện, không tin vào những thứ mà mắt thường không cảm nhận được. Như nói đến tiền bạc thì không thể do bố thí cúng dường mà được giàu sang. Phải là tích chứa, thâu gom và làm cật lực mới có tiền. Quan niệm như vậy nên ông không thích bố thí cúng dường, cũng không thích con cháu mình bố thí cúng dường. Hai chữ ‘thực tế’ muốn nói đây là như vậy.

Anh không muốn cha vướng vào những suy nghĩ không đúng, có thể trải dài sự nghèo khó vào những kiếp sau, nên trong những buổi chuyện trò anh hay nói về phước đức, là cái quyết định rất nhiều đối với đời sống thường nhật của con người. Nghe thì nghe, nhưng tin thì tôi biết ông cụ không tin.

Nhân duyên đến, cây đèn lớn như một dĩa bay trên trần nhà bỗng nhiên rớt xuống. Nó rớt vào lúc mà người xích lô vừa đi ra và ông cụ chưa kịp bước tới. Câu mà ông cụ buộc miệng nói sau đó là “Không có phước thì chết rồi! Mình không chết mà thằng xích lô chết, mình cũng chết”. Nghĩa là, trong thâm tâm, ông cụ đã ít nhiều công nhận phước đức là thứ quyết định ít nhiều ở cuộc đời này, không hẳn chỉ có sức lực của con người. Đó là dấu hiệu thay đổi đầu tiên cho một tư kiến, là cái nhân để có những cái quả khác trong tương lai.

Thật ra, những loại điềm lành đó không hẳn chỉ do công đức hạnh nguyện của người nhiếp hóa mà còn có phần phước đức của người được nhiếp hóa nữa. Thấy được điềm lành đó để tin mà làm theo còn phụ thuộc vào phần phước đức của người được thấy. Không có phước báu và căn lành của chính mình thì không đủ duyên để gặp được những điều như vậy, để niềm tin hình thành mà phá đi những tư kiến không đúng.