Kinh Thắng Man Phu Nhân Hội
KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI (P.3)
01/04/2017
PHU PHÂN PHÁT 10 HOẰNG THỆ (1)
Khi Thắng Man được thọ ký xong, vô lượng người và trời trong lòng đều phấn khởi. Hết thảy đều nguyện vãng sanh về thế giới của Phật kia. Lúc ấy, Thế Tôn cũng thọ ký cho họ được sanh về thế giới đó. Nghe Phật thọ ký xong, phu nhân Thắng Man chấp tay đối trước Như Lai phát 10 hoằng thệ :
THỆ tức là THỆ NGUYỆN, là thề nguyền hay tuyên thệ. Thệ nguyện rộng lớn trùm khắp tất cả chúng sanh, nên gọi là HOẰNG THỆ NGUYỆN. Sau là 10 hoằng thệ mà phu nhân đã phát.
1. Thế Tôn ! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, đối với các giới đã thọ không để phạm.
Tu gì đó tu, Bồ tát lớn cỡ nào đó lớn, việc đầu tiên trong vấn đề tu hành là phải giữ giới. Vì GIỚI là tướng bên ngoài biểu hiện cho tâm bên trong. Chỉ khi trong tâm không còn phạm giới thì mới không có giới bên ngoài để thọ. Song đa phần chúng sanh thời mạt pháp thì luôn cần có giới để thọ. Ngay cả phu nhân Thắng Man, là người được Phật tán thán “Nghĩa này, chỉ có ngươi và các đại Bồ tát mới có thể vâng nhận, còn hàng Thanh văn và Độc giác thì chỉ nhờ tin mà vào”, mà lời thệ nguyện đầu tiên của bà cũng là giữ giới. Thì biết, GIỚI quan trọng thế nào đối với việc tu hành.
Quá khứ qua rồi không bàn đến. Hiện tại, cho đến khi thành Phật, với những giới nào bà đã thọ, bà sẽ không để phạm. Chẳng hạn, kiếp này cái duyên của bà là Phật tử tại gia thì 5 giới của Phật tử tại gia bà sẽ không để phạm. Nếu thọ giới Bồ tát thì với giới Bồ tát bà cũng không phạm. Trong một kiếp nào đó, nếu bà thọ Sa di ni thì bà sẽ giữ những giới của Sa di ni. Nếu bà thọ giới Tỷ kheo thì bà sẽ giữ giới Tỷ kheo v.v… Trước mắt, bà phát 10 hoằng thệ này thì bà sẽ không để phạm những gì mình đã nguyện.
2. Thế Tôn ! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, đối với các bậc Sư trưởng chẳng khởi tâm kiêu mạn.
Trong luận Tối Thượng Thừa, có người hỏi “Thế nào là tâm ngã sở?”, ngài Hoàng Bá trả lời “Là có chút tâm cho ta hơn người, tự nghĩ ta hay như thế. Tâm ngã sở ấy là bịnh trong niết bàn”. Xuất hiện tâm kiêu mạn vì có chút tâm cho ta hơn người. Chỉ cần MỘT CHÚT cho ta hơn người thôi, lòng kiêu mạn sẽ xuất hiện. Nói BỊNH TRONG NIẾT BÀN, thì biết cái bịnh này không phải chỉ xuất hiện ở người không biết tu, mà là khá phổ biến trong giới người tu, nhất là những người từng sở chứng được thứ gì đó trong việc tu hành. Tu một thời gian mà thấy mình hơn bạn hơn Thầy, cái thấy của Tổ Phật cũng không bằng mình, rồi mắng Tổ, mạ Phật, coi trời bằng vung thì biết, mình đang mắc cái bịnh trong niết bàn nói đây.
Phu nhân biết mình có công đức và trí tuệ hơn người. Bà cũng biết nếu không khéo, cái thấy hơn người đó của bà sẽ là cái nhân làm phát sinh lòng kiêu mạn, là một loại phiền não chướng, một loại bịnh trong niết bàn, khiến việc tu hành của bà bị đình trệ. Vì thế, lời nguyện thứ 2 là không khởi tâm kiêu mạn. Nguyện là do lòng thiết tha đối với con đường Phật đạo của mình, mà nguyện cũng là để chặn đứng một thói xấu. Bởi lời nguyện, ngoài tác dụng phát tâm của mình ra, bản thân nó cũng tạo ra những duyên giúp mình không rời được những điều mình đã hứa.
3. Thế Tôn ! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, đối với chúng sanh không khởi tâm oán giận.
Việc thứ ba không kém quan trọng là không khởi tâm oán giận. Bởi sân giận đốt cháy cả rừng công đức. Ký cóp bao nhiêu năm tháng, giận lên tiêu tán tất cả. Đối với những thiện nghiệp từ quá khứ đến nay, trải qua quá trình dài lâu nên mình không thấy, chỉ biết tin vào lời của người xưa. Nhưng ai đã từng ngồi thiền mới thấy nó thiêu hủy công đức của mình thế nào. Buồn hay vui mà ngồi thiền thì gắng một chút sẽ ngồi được, chứ sân giận oán hận thì không thể ngồi thiền. Nó sinh chướng rồi lùng bùng cả người, không nặng người thì nặng đầu rồi khó thở, bởi khí huyết chạy lung tung v.v… không cách gì ngồi được. Một ngày ngồi thiền là một ngày làm Phật. Một giờ ngồi thiền là một giờ làm Phật. Thiền không được không phải hủy hoại hết công đức sao?
Ngoài ra, trí tuệ Phật hiển lộ là nhờ tâm lắng động. Sân giận lên thì như sóng thần nổi trên biển cả, che lấp cuốn trôi tất cả. Tâm chúng sanh lại huân tập rất tốt. Sân giận một lần, hai lần mà không có ý thức dứt bỏ thì nó sẽ có lực khiến mình sân hận hoài. Trí tuệ lu mờ thì mọi việc sẽ thành tăm tối. Nhân gian từng có câu “Giận mất khôn” là đó. Đây là đối với vấn đề tự lợi.
Với vấn đề lợi tha, nổi sân hay oán giận thể hiện lòng nhẫn nại của mình yếu, trí tuệ của mình kém, tình thương của mình đối với người ít ỏi. Nói ít ỏi là so với cái tôi của mình đây. Làm lợi ích cho người mà thủ 3 thứ đó làm hành trang thì khó mà thành công được. Trong Bạch Ẩn Thiền Định Ca, thiền sư Sessan nói “Sân giận cuối cùng trở thành căm thù, trở thành đố kỵ và tai họa cho sự sống. Không thể biết sự độc hại sẽ dừng ở đâu?”. Không biết được sự độc hại sẽ dừng ở đâu khi mình luôn có tâm giận tức với người. Vì thế, KHÔNG KHỞI TÂM SÂN GIẬN là lời thệ nguyện thứ 3 của bà.
4. Thế Tôn ! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, đối với sắc thân và những sự tốt đẹp của người, không khởi tâm ganh ghét.
Thấy người hơn mình sinh ghét là tâm trạng của đa số người đời. Vì ai cũng có cái TÔI. Khuynh hướng của cái TÔI là luôn muốn được nổi bật, luôn muốn trong vị trí hàng đầu. Vì thế, thứ gì hơn nó, nó có khuynh hướng không ưa. “Ta dễ cảm thông với người khác khi sự bất hạnh hay tai ương chụp xuống đầu họ ... Khi một người quen hứng chịu sự bất hạnh, ta ngạc nhiên làm sao khi một cảm giác sôi sục trong ta” nhưng “Những người bạn tốt, gần đây đã trở nên xa cách vì tôn ông bên cạnh vừa xây một cửa hàng”.[1] Thông cảm và chia sẻ với những bất hạnh của người khác thì dễ, nhưng vui vẻ tán thán thật lòng về những gì người khác hơn mình rất là khó. Không phải là người đại lượng không thể làm được.
NHỮNG SỰ TỐT ĐẸP là chỉ cho những thứ như tiền bạc, tài sản, vật dụng ... nó cũng chỉ luôn cho trí tuệ, đức hạnh hay tánh tốt của một người. Thấy người tài trí hơn mình mà sinh tâm khó chịu, hoặc thấy người bố thí cúng dường nhiều thì không ưa, rồi tìm cách chê bai hay nói ra nói vô … đều biểu hiện cho tâm ganh ghét đố kỵ nói đây.
Với những việc tốt đẹp của người mà không tùy hỉ được thì chí ít là đừng ganh ghét. Vì ganh ghét hay đố kỵ ngoài việc biểu hiện tướng ngã của mình, nó còn bị quả báo không tốt. “Kinh nói, không có tội nào ác bằng đố kỵ với trí tuệ, tánh tốt và hành động thiện của người”. Quả báo mình thấy rõ nhất trước mắt là sự bất ổn và mất an lạc của tâm. Ganh ghét, đố kỵ, ghen tuông … không phải là những cảm giác dễ chịu và hạnh phúc đối với mình. Đó là trạng thái đau khổ của ngạ quỉ và địa ngục.
5. Thế Tôn ! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, dù vật thực không được nhiều cũng không có tâm lẫn tiếc.
VẬT THỰC KHÔNG ĐƯỢC NHIỀU là chỉ cho phần vật chất mà phu nhân có được trong một đời. Tùy duyên thọ thân của mỗi đời mà sự thọ dụng ở mỗi đời khác nhau. Nhưng dù trong cái duyên vừa đủ ăn thôi, bà cũng nguyện không có tâm bủn xỉn đối với chúng sanh.
Thói thường của người đời là chỉ cho khi đã dư giả, không thì thứ gì không xài mới tới tay người khác. Người tu Phật thì không như vậy. Ngày mai chưa biết thế nào, nhưng trước mắt có người cần giúp đỡ, thì mình nên san sẻ những gì mình có … Đó là tâm hạnh của Bồ tát, là việc làm giúp mình xả đi sự ngăn cách giữa cái tôi của mình với cái tôi của người, mở rộng lòng từ, phá dần tâm chấp thủ và trí phân biệt.
Ở bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La thì việc không lẫn tiếc này không chỉ nằm trong phạm vi của vật ngoài thân mà “Đối với nội ngoại pháp không có tâm lẫn tiếc”. NGOẠI là chỉ cho tài vật. NỘI là chỉ cho bản thân. Nếu thật sự thấy thân tâm thế giới này là mộng thì với tài sản và thân thể này, có gì mà không cho được khi điều đó mang lại lợi ích cho chúng sanh?
6. Thế Tôn ! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, không vì mình mà nhận chứa tài vật. Phàm có thọ nhận, đều vì thành thục chúng sanh bần khổ.
Lời nguyện này giúp phá trừ sự chấp thủ của người tu cũng là để việc lợi ích cho mọi người được tốt đẹp. Vì có ngã nên có sự chấp thủ của ngã, gọi là ngã sở. Tâm chúng sanh của mình rất buồn cười. Với tiền bạc của người thì rộng rãi thoải mái với việc bố thí lắm. Không có thì thôi, nhưng lỡ để dành được một đồng thì lập tức muốn có đồng thứ hai, thứ ba và … không biết bao giờ mới đủ cho khoảng lòng chúng sanh rộng mở của mình. Có bao nhiêu cũng thấy không đủ thì việc làm lợi ích cho thiên hạ tất sẽ hạn chế. Lấy tiền thiên hạ làm phước thì hăng, nhưng đụng đến tiền bạc của mình lập tức có so đo tính toán. Vì vậy, phải chặn đứng ngay ở niệm đầu tiên “Không vì mình mà nhận chứa tài vật. Phàm có thọ nhận cũng vì thành thục chúng sanh bần khổ mà thôi”.
THÀNH THỤC CHÚNG SANH là dùng phương tiện vật chất giúp đỡ khiến họ nhận ra được những gì nên làm, những gì không nên làm để cuộc sống của họ được vui vẻ và hạnh phúc. Bởi không ai giúp mình được hạnh phúc lâu dài nếu không tự mình có suy nghĩ và hành động phù hợp với qui luật Nhân Quả ở thế gian. Không có suy nghĩ đúng đắn và hành động đúng đắn thì người có giúp bao nhiêu, khổ vẫn chỉ hoàn khổ.
BẦN KHỔ không phải chỉ có bần khổ về vật chất mà còn chỉ cho sự bần khổ về tinh thần. Đói cơm đói gạo mà khổ là lẽ tất nhiên. Nhưng đầy đủ cơm, gạo, nhà lầu, xe hơi mà không biết chút gì về luật Nhân Quả ở thế gian, cũng là một thứ khổ không thiếu cái bần của người đời.
7. Thế Tôn ! Con từ hôm nay cho đến khi chứng quả bồ đề, hành tứ nhiếp pháp mà chẳng cầu báo đáp, dùng tâm không tham, không lợi, không nhàm đủ, không ngăn ngại mà nhiếp thọ chúng sanh.
TỨ NHIẾP PHÁP là 4 pháp dùng để thu phục chúng sanh. Gồm có bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự.
1. BỐ THÍ là tặng những thứ mình có cho người. BỐ THÍ TÀI VẬT như giúp đỡ tiền bạc cơm gạo cho những người khó khăn. BỐ THÍ THÂN MẠNG, như ngày nay có người hiến thận hay hiến máu cứu người, đều thuộc loại bố thí này. BỐ THÍ SỰ KHÔNG SỢ như giúp người khi người bị hiếp đáp hoặc gặp chuyện bất bình giữa đường v.v... Hai trường hợp này không chỉ dành cho đối tượng là người mà còn cho cả loài vật. Cuối cùng là BỐ THÍ PHÁP, là cho ra những lời khuyên đúng thời đúng lúc, khiến người hồi tâm.
Dù là bố thí nội tài, ngoại tài hay bố thí pháp thì quan trọng là phải đúng lúc, đúng nơi. Người đang có nhu cầu về thứ gì thì việc bố thí của mình về thứ đó mới có tác dụng. Người đang nghèo đói cần ăn, mình không cho ăn mà cứ dài dòng văn tự “Cần phải tập bố thí cho người khác mới thoát khỏi cảnh đói nghèo” thì cũng giống như ngài Xá Lợi Phất, nhè người thổi lò mà dạy quán bất tịnh. Song muốn sử dụng đúng pháp đúng thời thì cần phải có CHÁNH PHÁP TRÍ. Nó là thứ để ta tới lui nhịp nhàng trong vấn đề lợi ích cho tha nhân.
Bố thí CHẲNG CẦU BÁO ĐÁP, là bố thí rồi thì quên nó đi, coi như chưa từng làm gì cho ai hết. Chưa từng làm gì cho ai thì người có đối xử với mình thế nào, mình cũng bình thường. Việc lợi ích cho người mới được dài lâu. Bản dịch của ngài Cầu Na Bạt Đà La thì ghi “Không vì mình mà hành tứ nhiếp pháp”. KHÔNG VÌ MÌNH, vì làm cho người. Chỉ vì người mà bố thí nên dù người có thế nào với mình, mình cũng không quan tâm. Chỉ biết người cần ăn thì mình giúp họ no, người cần hết sợ thì mình giúp họ hết sợ, người cần một lời an ủi thì mình tặng một lời an ủi.
2. ÁI NGỮ là lời nói nhẹ nhàng thương yêu. Người đời có câu “Mật ngọt chết ruồi” vì phần lớn mọi người đều thích lời nói êm dịu, nhẹ nhàng, gần gũi. Nhắm vào chỗ đó nên ÁI NGỮ là một trong 4 nhiếp pháp của Bồ tát. Song sự nhẹ nhàng nói đây là vì lợi ích của người, KHÔNG PHẢI VÌ MÌNH mà nói. Đây là sự khác nhau giữa ái ngữ cũa người đời và người tu. Dùng ÁI NGỮ, không phải để mình trở thành một người đáng mến trước mắt mọi người, cũng không phải vì những mục đích riêng tư của mình v.v… mà chỉ vì để người tiếp thu được lời phải, khiến người có cuộc sống vui vẻ, đạo hạnh tiến bộ, nên nói KHÔNG CẦN BÁO ĐÁP.
3. LỢI HÀNH là khởi thiện hạnh làm lợi ích cho mọi người, khiến họ sinh tâm thân ái mà theo mình học đạo. Thiền sư Lai Quả nói “Lợi hành có 2 thứ : Một là trợ giúp người hành đạo. Hai là làm lợi ích cho mọi người. Như người muốn ở tùng lâm không có y áo, không có lộ phí v.v… thì tìm cách cho họ áo chăn của mình, bán y bát của mình cho họ làm lộ phí. Chỉ lo cho người đầy đủ chẳng màng đến sự cần dùng của mình. Bồ tát vì lợi ích của mọi chúng sanh khiến cho họ được hoan hỉ an vui, lấy cái lợi của mình để làm lợi cho người. Lấy pháp mà mình đã hiểu ra dạy cho người, lấy hạnh mình đã làm mà tập cho người. Người sống trái đạo thì khuyên họ hối cải v.v… Phải biết tự mình hành đạo là công nhỏ, khuyên người hành đạo là công to, thế nên cái đạo LỢI HÀNH là vô tận vậy”.
4. ĐỒNG SỰ là thuận theo căn tính ưa thích của từng người mà tùy phần thị hiện cùng làm công việc như họ để khuyến hóa họ. Nghĩa là, muốn vớt người đang ngụp lặn giữ dòng thì cũng phải nhảy xuống chỗ họ mà vớt, không thể đứng trên bờ huơ tay huơ chân và miệng thì kêu inh ỏi. Do bi nguyện nên chư vị Bồ tát có thể hóa thân thành anh em, cha mẹ, vợ chồng, con cái hoặc làm cùng nghề, hoặc cùng một nghiệp với người mà mình muốn hóa độ. Như cùng nghiệp uống rượu, nghiệp nhiều chuyện, hay cùng một nghề giáo viên chẳng hạn. Có vậy, mới có điều kiện hướng người cùng về Chánh Đẳng Chánh Giác. Thiền sư Lai Quả nói “Muốn độ người ăn xin thì phải cùng người ấy làm nghề ăn xin để độ họ… muốn độ con heo thì cũng phải đầu thai thành con heo để mà độ … gọi là đồng sự nhiếp”.
Suy nghĩ và hành động của mình một khi đã thành thói quen, rất là khó bỏ. Như những người nghiện rượu. Có người biết rượu là độc, tương lai sẽ xơ gan, sẽ xảy ra tai nạn, xô sát … mà thấy rượu là quên tất cả. Đó là vì thói quen có năng lực rất mạnh (Phật gọi là nghiệp lực). Nó chính là động lực đẩy ta luân hồi trong sanh tử. Song thói quen này thuộc về hành động, chỉ cần mình đủ ý chí là bỏ được ngay. Nguy cơ nhất là thói quen nằm ở suy nghĩ, mà ta thường gọi là định kiến hay quan niệm. Cái kiểu “Nam vô tửu như kỳ vô phong” thì thôi, không biết đời nào mới chay tịnh được. Phải chờ một trận “sóng rượu” nào đó khiến mình chết đi sống lại với nó, mới mong thay đổi chút gì …
Với những vui, buồn, thương, giận và suy nghĩ của con người, là thứ được huân tập thành ruột thành rà từ vô thủy kiếp đến nay, lại càng khó bỏ. Nói chúng là vọng buông đi, không mấy ai chịu buông. Buông mà thấy chướng thân, chướng tâm thành không dám buông thì không có gì để nói. Nhưng có người buông được mà không chịu buông. Tiếc! Ngay cả sự vật vã, đau khổ, buồn bã, một khi quen với nó rồi, nó cũng dẫn người chạy lòng vòng như một cái thú chứ chẳng phải chơi. Bà vật vã, đau khổ, mất cân bằng vì đứa con thân yêu vừa qua đời, nhưng khi được các bậc thầy chỉ cho phương thức đơn giản để trị đau khổ thì hình như bà không muốn. Bà sợ hình ảnh của con sẽ phai mờ trong ký ức của bà thì phải… Không muốn thoát khổ thì không ai có thể giúp mình hết khổ. Cũng như không bỏ được những thói quen về thân, khẩu, ý thì không thể có được cuộc sống bình an hạnh phúc, nói gì đến việc làm Phật, làm Tổ. Ông Tổ vật lý Einstein nói “Đời nay thay đổi một tư kiến còn khó hơn phá một hạt nhân nguyên tử”. Song nếu không thay đổi được những suy nghĩ sai lầm - là nền tảng cơ bản cho một hành động sai lầm, là nguyên nhân dẫn đến khổ đau - thì làm sao có thể thành thục chúng sanh? Mới thấy, thành thục cho được chúng sanh trong tâm đã khó, nói gì là chúng sanh bằng xương bằng thịt ngoài tâm. Sức lực là vô kể mà thời gian thì vô tận. Không có tâm “Không tham, không lợi, không nhàm đủ, không ngăn ngại” khó mà làm được. Vì thế, nó trở thành một trong các lời thệ nguyện của phu nhân Thắng Man.
Bản Hán của ngài Cầu Na Bạt Đà La thì ghi là TÂM KHÔNG ÁI NHIỄM thay cho tâm không tham, không lợi. TÂM KHÔNG ÁI NHIỄM, nghĩa của nó rõ ràng và dễ hiểu hơn ‘Tâm không tham, không lợi’. Như với việc LỢI HÀNH, giúp người với tâm không ái nhiễm thì không vì thương mới giúp, ghét thì không. Giúp rồi cũng không lấy đó để tính ơn, tính nghĩa. Chỉ với mục đích duy nhất là làm lợi ích cho người mà thôi.
Trong cảnh ĐỒNG SỰ, nếu có tâm ái nhiễm thì thay vì hướng người đó về đạo bồ đề, mình lại bị người lôi theo nghiệp tập của người. Thay vì làm một anh say rượu để lôi những anh say rượu cùng tỉnh, mình lại thành một tay bợm nhậu của đám xỉn say. Hạnh nguyện tiêu tùng mà công phu thì sập tiệm. Vì vậy, tâm không ái nhiễm rất cần thiết cho pháp đồng sự.
Các tin khác
-
» KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI (01/04)
-
» KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI (P.1) (01/04)
-
» KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI (P.2) (01/04)
-
» KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI (P.4) (01/04)
-
» KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI (P.5) (01/04)
-
» KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI (P.6) (01/04)
-
» KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI (P.7) (01/04)
-
» KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI (P.8) (01/04)
-
» KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI (P.9) (01/04)
-
» KINH THẮNG MAN PHU NHÂN HỘI (P.10) (01/04)
