Thử một lần nhìn lại
THỬ MỘT LẦN NHÌN LẠI (P.4)
Sở duyên duyên - Phật chỉ nói 5 bộ kinh - Huân tập
02/04/2017
SỞ DUYÊN DUYÊN
Ở đời, tôi không phải là đứa có phước. Từ nhỏ đến lớn, chưa bao giờ tôi được như ý thứ gì. Tính cái gì cũng sai. Mơ cái gì cũng trật. Thứ gì không nghĩ tới thì thôi, nghĩ tới nó liền ra ngược. Cũng được vài lần như ý, nhưng phiền não cũng liền sau. Như ý kiểu đó, nên không mấy buồn về những thứ không như ý. Cũng không cầu được như ý nữa. Không như ý có khi là cái may của mình cũng nên.
Đời thì bạc nhưng đạo thì không. Thường Chiếu, thầy trồng cây rất nhiều, hoa cũng không phải ít. Tôi xuống Thường Chiếu không phải để ngoạn cảnh hay ngắm hoa, nhưng Thường Chiếu đãi tôi rất mực. Tôi muốn thứ gì nó hiện ra thứ đó. Thích giấy đỏ, ở Thường Chiếu hoa kết mảng thành bồn. Thích hoa vàng, về Thường Chiếu hoa vàng giăng đầy lối. Thầy nói kiểng Bằng lăng chắc không ra hoa, nhưng nó tím một vùng trời. Đất Thường Chiếu, với tôi rất mặn tình.
Ai trong ta cũng có những cảnh ngộ như thế, người được cái này, người được cái kia. Người hạnh phúc ngoài đời, người may mắn trong đạo. Mỗi người ai cũng có cảnh giới của riêng mình. Cảnh giới riêng đó Phật gọi là SỞ DUYÊN. Gọi là SỞ DUYÊN vì nó là đối tượng của một cái NĂNG DUYÊN, chính là phần tâm thức của mình. Do nhân duyên đời trước mà đời này xuất hiện một tên NĂNG DUYÊN cùng với thế giới SỞ DUYÊN của hắn. Anh có năng duyên và sở duyên của anh. Tôi có năng duyên và sở duyên của tôi. SỞ DUYÊN cùng NĂNG DUYÊN là kết quả của một chuỗi nhân duyên từ đời trước. Nhân như thế, gặp duyên như thế thì hiện ra con người và hoàn cảnh như thế. Nó bao gồm tất cả những gì mà 5 giác quan của mình cảm nhận được.
Nhân duyên của tôi với đời không mấy thuận chiều, nên tôi chỉ có thể lượm lặt những thứ bất toàn. Cảnh bất toàn ấy là quả sở duyên của một cái nhân từ bao kiếp trước. Nhân như vậy thì quả như vậy. Nó như thế nào mình cứ y nguyên thế ấy mà chiêm nghiệm thì cảnh giới ấy Phật gọi là SỞ DUYÊN. Hoa rụng vì đến lúc nó rụng. Hoa nở vì đến lúc nó nở. Cứ vậy mà chiêm nghiệm, đừng thấy tốt, xấu, vui, buồn thì nó là cảnh sở duyên. Nhưng một khi hoa nở làm mình vui, lá rụng khiến mình sầu thì nó không còn là cảnh SỞ DUYÊN nữa, mà gọi là SỞ DUYÊN DUYÊN. Có đến 2 chữ duyên. Vì trên cảnh SỞ DUYÊN mà duyên một nấc nữa nên gọi là SỞ DUYÊN DUYÊN. Vì duyên với nó nên mình mới thấy buồn hay vui, xấu hay tốt. Không duyên với cảnh thì cảnh chỉ là cảnh, nào phải cảnh có vui hay buồn, tốt hay xấu.
Tâm ai cũng chất đầy tình cảm và quan niệm, nên đa phần đều không sống được với cảnh SỞ DUYÊN của mình, chỉ sống được với cảnh SỞ DUYÊN DUYÊN. Thi sĩ Nguyễn Du có một câu thơ khá bất hủ “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Nó nói lên hiện cảnh đã bị tâm thức của mình làm biến thể. Buồn thấy cảnh buồn. Vui thấy cảnh vui. Bác sĩ nhìn cô thiếu nữ theo góc độ của chàng bác sĩ. Anh họa sĩ nhìn cô thiếu nữ theo góc độ của anh họa sĩ. Anh có cái nhìn của anh. Tôi có cái nhìn của tôi. Ngoại cảnh tuy một mà trở thành muôn vàn sai khác là do bị chi phối bởi quan niệm và tình cảm của con người. Nếu quan niệm và tình cảm của ta giống nhau, ta sẽ có cảnh DUYÊN DUYÊN như nhau.
Thiền sư Hữu Tâm, trụ trì chùa Tịch Tướng, có người sư đệ tên là Hữu Đắc. Hữu Đắc căn cơ chậm lụt lại chột hết một mắt, bình thường chỉ giúp sư huynh làm việc ở nhà sau, chưa bao giờ tiếp khách.
Một lần, thiền sư Hữu Tâm đi vắng, vừa ra khỏi cửa thì một thầy tăng đến tham vấn. Sư Hữu Đắc bất đắc dĩ phải dùng tay tiếp khách, còn miệng thì câm như hến để khỏi lộ cái sở đoản của mình.
Sư Hữu Tâm trở về cũng vừa lúc gặp thầy tăng đến đầu ngõ. Thầy vui vẻ khen ngợi “Sư đệ của Thầy đúng là bậc pháp khí không ai sánh được. Trước tiên con đưa 1 ngón tay muốn biểu thị Phật là đấng duy nhất trong cõi trời người, thầy ấy liền đưa 2 ngón tay biểu thị Phật Pháp tuy 2 mà không phải 2. Sau đó con đưa 3 ngón tay muốn hiển thị Phật - Pháp - Tăng hòa hợp không thể thiếu. Sư thầy liền cung tay vào mặt con biểu thị 3 cái đó đều do một cú ngộ mà được”. Nói rồi tăng đắc chí lễ bái mà đi.
Sư Hữu Tâm về đến cổng chùa, Hữu Đắc đã ấm ức chạy ra “Vừa rồi có một thầy tăng chẳng ra làm sao. Vừa đến cổng, đã chỉa ngay ngón tay vào con mắt chột của đệ mà chế giễu. Đệ bỏ qua, đưa 2 ngón tay biểu thị đủ 2 con là may mắn. Không ngờ hắn vẫn chưa hết cái tật đó, đưa 3 ngón tay ám chỉ hắn và đệ cộng lại cũng chỉ mới 3. Đệ chẳng nể nang gì nữa, cung tay đánh vào mặt hắn một cú. Không ngờ hắn cũng biết lỗi, quì xuống lạy, rồi chạy mất”.
Cùng một cảnh ngộ mà tăng thấy theo đường tăng, sư thấy theo đường sư. Chỉ có sư Hữu Tâm ở giữa là cười đắc chí. Chẳng qua vì tư tưởng của mỗi người mỗi khác. Cảnh SỞ DUYÊN chỉ gồm 3 ngón tay và 1 cú đấm nhưng trở thành cảnh DUYÊN DUYÊN để mình nghiền ngẫm, là nhờ dòng vọng tưởng phong phú của mỗi người. Dòng vọng tưởng này có thứ cứu người mà cũng có thứ giết người. CỨU NGƯỜI là khi sự vật hay cảnh ngộ ấy qua tâm thức của mình, nó trở thành thứ giúp mình học đạo sáng tâm, việc tu hành của mình tăng trưởng. Cú đấm rốt sau ấy là cú đấm “tàn sát” nhưng do cái duyên giáo hóa của sư Hữu Đắc và phước lành của thầy tăng mà nó thành pháp cứu người. Trở thành GIẾT NGƯỜI, là qua tâm thức của mình, cảnh vật hay sự việc ấy khiến mình tăng thêm tham lam và sân hận. Người ta nói chuyện thiên hạ đâu đâu, mình cũng tưởng người ta nói mình, rồi tìm cách gây gổ trả thù, đó là pháp giết người.
SỞ DUYÊN DUYÊN là một trong 4 loại duyên chi phối toàn bộ đời sống con người đây. Vì SỞ DUYÊN đã biến thành SỞ DUYÊN DUYÊN nên thế gian này mới lắm chuyện nực cười. Hạnh phúc cũng nhiều mà đau thương không ít. THIỀN, chính là để tâm thức của mình không còn bị sai sử bởi những quan niệm định kiến hay tình cảm riêng tư khiến cái nhìn của mình đối với muôn sự muôn vật ở thế gian trở thành méo mó. Nó giúp mình nhìn đúng thực tướng của vạn pháp ở thế gian.
PHẬT CHỈ NÓI 5 BỘ KINH
“Phật chỉ nói 5 bộ kinh”, là câu nói của người bạn, cốt giúp tôi tỉnh ngộ khi thấy tôi cứ đeo đẳng học pháp với Hòa thượng, là loại pháp không phải chỉ có tên Đại thừa mà còn được hàng ngoại đạo xưa ban tặng mấy chữ “Quái thai của Phật giáo”.
"Phật chỉ nói 5 bộ kinh” nghĩa là những thứ còn lại không phải Phật nói. Không phải Phật nói thì có thể là Bồ tát nói, cũng có thể là ma nói, mà cũng có thể do những tên quái thai nói. Một câu không mang tính xác định, chỉ mang tính phủ định, nhưng cái phủ định ấy cực kỳ nguy hiểm, đủ làm chao đảo lòng người khi trí tuệ của người chưa phát triển. Bởi Phật là đấng chí tôn chí thượng trong cõi trời người, đương nhiên những gì Phật nói phải hơn Bồ tát. Nếu ma quỉ và những thằng quái thai nói nữa thì thôi còn gì để bàn.
“Phật chỉ nói 5 bộ kinh” có thể chỉ là một lời nói vô tình không mang tính phân biệt chia rẽ hay xúc xiểm Đại thừa. Ừ có sao mình nói vậy. Cái trí mình chỉ thấy được Phật giảng nói 5 bộ kinh nên mình nói như thế. Những bộ kinh khác Phật cũng nói, nhưng vì con mắt mình chỉ thấy được những thứ không bị ngăn cách bởi tường vách, không thấy được những chỗ núi cao biển lặng thâm sâu, nên mình nói “Phật chỉ nói 5 bộ kinh”. Nhưng qua cái tai của chúng hữu tình, là bộ tai không phải chỉ có tai và nhĩ thức mà còn bị sai sử bởi tên ý thức, một tên được gọi là “Công vi thủ, tội vi khôi”, rồi được truyền đi từ miệng người này qua miệng người kia, là thứ “Bệnh từ miệng vô, họa từ miệng xuất”, nên nó trở thành câu nói cảnh báo xúc xiểm làm hoảng loạn chúng hữu tình.
Thứ cứng đầu như tôi mà còn chao đảo không ít. Chẳng qua lúc đó mình chưa đủ công phu để hiểu hết những gì Phật Tổ đã nói. Chữ “hết” nói đây không phải là thấu được toàn bộ những gì kinh điển đã nói. Muốn thấu được như thế thì sự CHỨNG NGHIỆM của mình phải tương đương với những gì kinh luận đã diễn bày, không phải chỉ dùng cái tai để nghe, cái đầu để hiểu. Nói “hết” là thấy được - ít nhất là trên mặt ngôn từ, lý luận - sự liên hệ chặt chẽ giữa 3 thừa và sự bao trùm vĩ đại của Đại thừa đốn giáo. Không có phần giáo pháp thâm sâu này, Phật pháp không thể nào là một tôn giáo như Einstein, ông Tổ của ngành vật lý hiện đại đã nói “Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ. Tôn giáo này siêu việt khỏi một đấng thiêng liêng, tránh hết mọi giáo điều và thần học. Vì bao trùm cả thiên nhiên lẫn tâm linh, tôn giáo này phải được đặt nền tảng trên một ý niệm đạo giáo phát sinh từ những thực nghiệm của mọi sự vật thiên nhiên và tâm linh như là một sự hợp nhất đầy ý nghĩa. Đạo Phật đáp ứng được điều đó”. Không có phần giáo lý của Đại thừa, là phần giáo pháp giúp người đời nhận ra được thực tánh của vạn pháp, cũng là phần triển khai chi tiết những gì Phật đã nói tóm quát trong giáo lý Tiểu thừa, thì Phật pháp không thể nào ứng phó được với những nhu cầu hiện nay của nền khoa học hiện đại đúng như Einstein đã nói “Nếu có một tôn giáo nào ứng phó được với các nhu cầu của nền khoa học hiện đại thì đó chính là Phật giáo”.
Tôi đến với Đại thừa đốn giáo chỉ vì nhân duyên đưa đẩy mà đến, thực tình nào biết cái gì là Tiểu thừa, Đại thừa hay Nguyên thủy mà lựa chọn. Cái gì cũng được, miễn nó giúp tôi thoát được những bế tắc hiện tại. Cốt yếu là tôi phải có hứng thú với nó. Có hứng thì mình mới quyết tâm sống chết làm theo. Dở dở ương ương như con gà mắc toi thì Phật có hiện ra trước mặt cũng chẳng làm gì, nói gì là Tổ hay Thầy.
ĐẠI THỪA ĐỐN GIÁO đã đáp ứng được những điều sơ khởi đó của tôi. Vậy mà nghe cô bạn nói xong, tâm liền chao đảo, trong đầu liền khởi niệm nghi. Nghi mà được như mấy vị thiền sư thì có nghi là có ngộ, nhưng nghi mà nghi theo kiểu chúng sanh thì cái nghi ấy sẽ tàn phá công phu của mình. Người tu mà không quyết tâm với pháp tu là do không đủ niềm tin với Thầy, Tổ, pháp môn và với chính bản thân. Không đủ niềm tin nên gặp chút gì hơi khó là dội. Nhưng làm sao không khó khi mình phải đối đầu với những tập tục đã được huân tập từ bao ngàn kiếp? Sẽ đứt đoạn nửa chừng nếu không quyết tâm. Cứ nghiệm rồi sẽ thấy, đi rồi sẽ biết.
Song thứ gì cũng có duyên có nghiệp. Muốn nghi cũng không thể nghi lâu. Bởi cứ đặt chân đến Thường Chiếu, chỉ cần thấy mặt thầy hay nghe giọng nói của Hòa thượng, mối nghi liền tan. Sư Hưng, một sư Tiểu thừa, đầu đội trời, chân nện đất, cần mẫn với hạnh đầu đà rất mực, cũng từng nói với tôi “Ngài Ca Diếp, ông Tổ của Tổ Sư Thiền, là người được Phật truyền trao nửa tòa ngồi”. Nhờ vậy, cái nghi không có chỗ miên mật. Cái nghi không được miên mật mà duyên tu tập Đại thừa cứ thúc tới, nên chỉ còn cách theo nó cho đến bây giờ.
Thôi thì cái gì cũng vậy. Muốn biết sự thật thế nào, đều phải đi sâu đi sát với nó mới biết, không thể chỉ nghe loáng thoáng chút gì rồi bỏ ngang nửa chừng. Chủ yếu là trong hiện tại, nếu nhờ cái quái thai ấy mà mình sáng ra được nhiều thứ, cuộc đời cũng bớt khổ đau, thì cớ sao buông gánh nửa chừng? Thứ gì cũng có duyên có nghiệp. Nếu duyên nghiệp của bạn là tu Đại thừa đốn giáo, tức bạn đã từng có nhân duyên với nó trong nhiều đời, thì chỉ có nó mới làm bạn bình yên. Nó có lực xoa dịu và lôi bạn theo nó. Đâu phải nói bỏ mà bỏ liền được.
Bạn không thể tin đường ngọt, nếu bạn chưa từng nếm qua đường. Bạn chao đảo vì bạn chỉ nghe chứ chưa từng nếm. Một khi bạn đã nếm được cái ngọt của đường, người ta nói đường chua hay đắng, bạn sẽ thấy bình yên, không có gì dính dáng để bạn quan tâm. Tu hành cũng như thế. Cái quan trọng là phải nếm cho được pháp vị mình đã nghe, không thể chỉ nghe suông mà giải quyết được mọi chuyện. Cớ sự là ở đó.
HUÂN TẬP
Từ này cũng giống như từ SỞ DUYÊN DUYÊN nói trước. Chúng được dùng rất nhiều trong Phật pháp, nhưng vì là từ chuyên môn nên ngoài đời mình ít được nghe. Giờ nghe cho biết. Cứ đọc mãi những thứ dễ hiểu, trí mình không phát được. Thôi thì làm quen với nó từ từ. Tuy ngữ từ là riêng của Phật học, nhưng ý nghĩa và tác dụng của nó thì không xa lạ với cuộc sống thường nhật của mình. Phật pháp đâu lìa dòng đời mà xa lạ.
Trà vốn không có mùi thơm của hoa, nhưng đem ướp lài thì có mùi lài, đem ướp sen thì có mùi sen. Lấy long não để trong áo quần thì đi đâu người mình cũng đầy long não. Hình thái ướp mùi đó gọi là huân tập. Thứ gì từ bên ngoài mang vào, lâu dần trở thành như chính mình, đều là hình thức của huân tập.
Mọi thứ ở thế gian này vốn không, ngay cái thế gian này cũng không. Chỉ do hai chữ HUÂN TẬP mà thành có. Tư tưởng, tình cảm cho đến hành động, tất cả đều từ sự huân tập này mà ra. Có điều, mình chỉ chiêm nghiệm được những gì trong hiện tại nên mình không thấy được quá trình huân tập từ vô thủy kiếp đến nay. Nắm được hai từ huân tập này, mình có thể biến cát thành vàng. Nói vậy sẽ có nhiều người, rất nhiều người muốn biết huân tập là gì.
Thiền sư Kitano Gembo qua đời vào lúc 92 tuổi. Suốt đời, ông cố gắng không để mình vướng mắc vào thứ gì. Một lần đang lang thang thì gặp một du khách hút thuốc. Ông được mời một điếu. Kitano nhận lời và nghĩ thầm “Hút thuốc thật thích thú!” Nhưng ông không bao giờ lặp lại điều đó lần hai, chỉ vì “Những vật thích thú có thể quấy phá thiền định. Trước khi đi xa hơn, tốt nhất hãy dừng lại bây giờ”.
Năm 23 tuổi, Kitano học Kinh Dịch. Ông đã áp dụng thuật bói toán trong Kinh Dịch để xác minh những điều mình muốn biết. Rồi ông chợt tỉnh “Nếu ta cứ làm cái việc xác quyết với Kinh Dịch thế này, ta có thể chểnh mảng việc thiền định”. Kitano từ bỏ Kinh Dịch và không bao giờ sử dụng đến năng lực huyền bí đó.
Năm 28 tuổi, Kitano học viết chữ nho và làm thơ. Kitano trở nên thiện nghệ với các môn nghệ thuật này. Ông nghĩ “Bây giờ nếu không dừng lại, ta sẽ là một thi sĩ chứ không phải thiền sư”. Vì thế ông không bao giờ làm thơ nữa.
Không dừng lại, nghĩa là ta đang huân tập việc làm thơ vào trong tâm thức của mình. Thứ gì được huân tập nhiều, thứ đó sẽ thành thói quen. Đã thành thói quen thì nó có lực dẫn mình theo nó. Huân càng sâu, thói quen càng bền bỉ. Thói quen chính là nghiệp. Nghiệp chính là nghề. Vì thế “Không dừng lại, ta sẽ thành một thi sĩ chứ không phải thiền sư”. Thi sĩ một khi trở thành nghiệp dĩ đời mình thì “Trong cơn trường mộng, lại sinh mộng. Giữa giấc mơ say, lại thấy mơ”. Thiền là để tỉnh mộng, để nhìn cho được bản chất thực của những thứ ở thế gian đây, trong đó có thân và tâm mình. Giờ mơ chồng mơ, mộng chồng mộng thì thiền nớ không phải là Thiền Tông mà là thiền ba rọi.
Trong đời thường đây, thứ gì mình đã thích thì thứ đó đã có một quá trình huân tập sâu xa trong tiềm thức của mình. Thứ gì trở thành thiện nghệ với mình, thứ đó đã được huân tập trong nhiều đời trước. Vì sẵn có cái chủng đó trong tiềm thức, nên gặp lại cái duyên ấy mình mới thích. Thích mà tiếp tục tiến nữa thì nó trở thành điêu luyện và thiện nghệ. Vì thế thiền sư Takino nói “Những vật thích thú có thể quấy phá thiền định”. Thiền là để bỏ đi những tập tục tồn động trong mình mà giờ làm cho nó thành thiện nghệ điêu luyện thì không phải phá đi sự thiền định của mình là gì.
Cũng vì cớ sự đó mà tổ sư nhà tôi trước giờ một chữ Phật cũng không biết, một bữa chay kham không vô, đùng một cái đóng cửa phòng chay tịnh. Bởi chủng duyên tu hành đã có từ trước. Cái chủng duyên ấy không dính đến câu niệm Phật, cũng không dính đến những hình thức trong đạo Phật, mà dính đến 7 chỗ tìm tâm trong kinh Lăng Nghiêm. Vì thế chạm đúng cái duyên ấy, chủng tử cũ phát ra, mọi thứ liền hiện hình.
Việc đời cũng không khác. Thứ gì được huân tập nhiều, thứ đó sẽ hiện hình khi đủ duyên. Nhà bác học Eistein, ngày còn bé thường lầm lì và ít nói. Đến 7 tuổi ông cũng chỉ nói được những câu rất ngắn. Không có triệu chứng gì của một người lỗi lạc. Một hôm, cha ông mang từ xưởng về nhà một chiếc la bàn. Enstein chăm chú nhìn rồi quay đi quay lại dụng cụ ấy. Quay gì thì quay, vẫn thấy kim la bàn hướng về một phía nhất định. Enstein la lên “Chung quanh kim la bàn phải có cái gì đó làm cho nó quay”. Chủng vật lý được huân tập từ bao kiếp trước giờ đủ duyên nẩy mầm. Mấy chục năm sau ta có nhà bác học vĩ đại Einstein.
Tác dụng của việc huân tập
Việc huân tập có tác dụng tạo ra thói quen và để lại dấu ấn trong tâm thức như thế, nên chư Tổ mới lập ra tùng lâm, người đời mới có trường học. Trường học là nơi giúp người đời huân tập kiến thức và đạo đức cần có của một con người. Tùng lâm giúp ta phá bỏ thói quen ăn, uống, ngủ, nghỉ thường tình của người đời. Không ai ngoài đời mà 10 giờ đêm đi ngủ, 3 giờ sáng dậy ngồi thiền. Những gì mà một thiền sinh phải thực hành, chính là tạo ra một thói quen mới cho mình. Thói quen mới này giúp mình phá bỏ thói quen đời và tương ưng hơn với tự tánh thanh tịnh của mình. Kỹ luật của tùng lâm chính là điều kiện rất tốt để những thứ bá vơ bá vẩn không có điều kiện để lại dấu ấn trong tâm thức của mình. Một hình ảnh xấu, một thói quen đời, một lời không hay không có chỗ để xuất hiện trước một tên tâm thức quá háo khách.
NHẬP THẤT cũng là một hình thức huân tập. Chính là để mình quen dần với cái tịnh, bỏ dần cái động. Tịnh không phải là chỗ rốt ráo của người tu thiền, nhưng một khi nó trở thành thói quen, thì cũng có nghĩa là thói quen động đã giảm bớt. Thân tâm phải qui về một mối bình yên, mới thể nhập được cái KHÔNG ĐỘNG CŨNG KHÔNG TỊNH. Sống được với cái KHÔNG ĐỘNG KHÔNG TỊNH đó rồi, mình mới có khả năng tùy duyên với vạn sự vạn vật đúng với nghĩa nó đã mang.
Huân tập tạo ra nghiệp lực
Thói quen đạo một khi đã mạnh thì nó có lực dẫn mình đi trong đường đạo nhiều hơn đường đời. Đạo là thứ mang lại hạnh phúc cho mình. Đó chính là động lực giúp mình không rời khỏi đường đạo dù trồi lên trụt xuống bao nhiêu. Đời có nghiệp lực của đời thì đạo cũng có nghiệp lực của đạo.
Khổ là động lực đẩy tôi đến với đạo. Đại thừa đốn giáo là chủng nhân giúp tôi đến với Tổ Sư Thiền. Tu, phát tâm với niềm đam mê rất mãnh liệt nên công phu của tôi khá miên mật. Song trên lý, thấy gì cũng hay cũng dễ, nhưng đụng thực tế, không có thứ gì dễ với mình. Cũng tại mấy chục năm làm đàn bà. Chưa kể những tập tục còn ẩn sâu trong tiềm thức của mình. Cái thói đàn bà thành công chừng nào thì việc tu hành càng trở ngại thê thảm chừng nấy. Thứ gì thuộc tình cảm, nó có chiều hướng đình trệ không thanh thoát. Tình càng nhiều, khí càng dữ, ngồi thiền càng nặng. Càng miên mật, khí dồn càng ghê. Cái chướng nơi thân quá nặng nề. Không có phút giây phát tâm mãnh liệt ấy, không dễ gì chịu đựng với những trạng thái ngạ quỉ. Song nỗi đam mê có thể giúp mình chịu đựng tất cả.
Đam mê chính là năng lực giúp mình chịu đựng khó khăn, nhưng cái LỰC của nghiệp, đương nhiên là nghiệp đạo, mới là thứ giúp mình vượt cạn. Không có phần nghiệp lực này, mình sẽ đầu hàng vô điều kiện với việc tu hành. Vọng một khi bị giác miên mật thì khí cũng theo đó mà mờ mịt. Đầu óc luôn trong tình trạng căng thẳng. Đang từ 52 ký, xuống chỉ còn 42 ký. Giấc ngủ luôn chập chờn. Bởi vọng trồi đầu là cái biết liền có mặt. Đầu óc cứ sáng rực như thế suốt mấy năm liền. Sức khỏe sút giảm. Tôi muốn từ bỏ mọi thứ. Không còn sức để làm Phật.
Nhưng mọi thứ không có gì theo mình. Mình giống như con khỉ ngồi trên lưng cọp. Muốn buông cũng chỉ nhăn răng ngồi lì cho qua cơn hoạn nạn. Không muốn tiếp tục nhưng không thể leo xuống. Nghĩa là, không phải đời mới có nghiệp lực mà tu cũng có nghiệp lực. Có huân tập là có nghiệp lực. Nhờ cái nghiệp đạo ấy, mình mới phá được cái nghiệp đời. Cái lực ấy cứ đẩy mình đi không cho mình dừng lại nửa chừng. Thành việc quan trọng của người tu là cố gắng tạo cho mình thói quen đạo càng nhiều càng tốt. Thói quen một khi đã mạnh, nó sẽ là động cơ giúp mình không rời đường đạo. Nói theo phu nhân Thắng Man là, CHÁNH PHÁP ĐANG NHIẾP THỌ MÌNH. Chánh pháp mà nhiếp thọ rồi, mình làm bậy mình sẽ bị quả báo liền tay. Nhờ vậy mình không còn làm bậy. Ác đạo có hiện, chẳng qua là do hạnh nguyện của mình mà thôi.
Ai cũng thích thiền bởi thiền có phần tùy duyên rất phóng khoáng. Nhưng chui đầu vào đó rồi, nắm được việc huân tập cũng như thói quen nói đây, mới hiểu cái phóng khoáng mà chư vị thiền sư có được, là cái quả của một quá trình gian khổ. Nếu hiểu cái LỰC của thói quen và việc HUÂN TẬP có tác dụng thế nào, không ai dám nói về việc tu hành như những nhà thưởng ngoạn, cũng không dám mở miệng nói 2 chữ tự tại tùy duyên khi cuộc sống của mình dính liền với tham dục và những thông lệ đời thường. Tu mà coi thường và sống vẩn vơ theo những “thông lệ” đó, thì cái gọi là tùy duyên chỉ là cái quả của những thói quen đời. Tùy duyên như thế, chỉ giúp mình huân tập nghiệp đời càng chắc. Sai một ly liền đi trở ngược. Mình tưởng mình tùy duyên như các vị thiền sư chính thống, nhưng thật là đang nuôi dưỡng nghiệp đời càng mạnh. Xuôi tay thì mọi thứ theo nghiệp mà đi. Mở mắt, đã thấy lênh đênh chốn chợ đời. Càng tùy duyên càng đổ nợ ...
Sự huân tập là bình đẳng ...
Một suy nghĩ dù tốt hay xấu, một khi được huân vào tâm thức đều đặn, sẽ để lại dấu ấn như nhau. Thứ nào được huân tập nhiều thứ đó để lại dấu ấn nhiều. Thứ nào được huân tập ít, thứ đó để lại dấu ấn ít. Việc huân tập là bình đẳng. Không kể thứ đó là thiện hay bất thiện, có huân tập là có để lại dấu ấn trong tiềm thức. Thứ mà người đời gọi là tánh sân, tánh tham ... chẳng qua là thứ được huân tập trong nhiều đời nhiều kiếp của mình. Nói “Tập lâu thành tánh” là vậy. Một khi dừng nghỉ không huân tập nữa thì cái gọi là tánh đó sẽ mất, không có gì trường tồn bền vững như mình tưởng.
... Nhưng cái quả thì khác nhau.
Huân tập thì bình đẳng nhưng cái quả mà mình nhận được từ việc huân tập thì không như nhau. Cái quả nói đây là chỉ cho kết quả của một thói quen. Huân tập tạo ra thói quen. Khi đã thành thói quen, thói quen lại có một lực đưa mình tới cái quả của nó. Mình tập cho con trẻ tấm lòng vị tha đối với muôn người. Một khi sự vị tha đã thành thói quen, mình sẽ có một đứa con trưởng thành với tấm lòng vị tha. Tấm lòng vị tha ấy sẽ đưa đến cái quả an vui cho nó. Theo gốc độ nhân quả ba đời, lòng vị tha ấy sẽ tạo cho nó một thân tướng với hoàn cảnh tốt đẹp trong những kiếp sau. Ngược lại, bạn tập cho con trẻ sự vị kỷ thì bạn sẽ có một đứa con trưởng thành với tính vị kỷ. Tính vị kỷ ấy thường đưa đến kết quả khổ đau trong hiện đời mà cũng là cái nhân cho những cái quả bất hạnh về sau. Sự huân tập là bình đẳng nhưng tùy cái duyên là thiện hay bất thiện mà ta có cái quả là lành hay dữ trong tương lai.
Ngày nay vấn đề nhân quả bị bỏ mặc. Rất ít người biết về nhân quả. Cũng không ai có thì giờ quan tâm đến tác dụng của việc HUÂN TẬP. Chính vì thế, từ gia đình cho đến xã hội, ít ai quan tâm tạo cho trẻ những thói quen tốt trong suy nghĩ và hành động. Chỉ biết huân tập cho trẻ tính vị kỷ và để chúng thoải mái với những ưa thích của mình. Tranh ảnh, sách báo, bạo lực cứ tới tấp huân tập vào đầu trẻ. Không hiểu rằng, làm vậy là đang tập cho trẻ những thói quen xấu. Thói quen xấu sẽ đưa đến một cái quả không tốt. Đây là lý do vì sao ngày nay, sự bạo tàn có thể xảy ra cả với trẻ chưa đến 10 tuổi, con giết cha, em giết anh, chồng giết vợ, bạn bè thanh toán lẫn nhau. Một phần là do cái nhân từ đời trước, một phần do cái duyên ở hiện đời bị bỏ mặc, cái quả xảy ra mới như vậy.
Cho nên, không thể nào không cảnh giác với những thứ đang thu vô của mình. Thứ gì lúc đầu chẳng như thoáng mây? Chỉ vì xem thường mà thành khối nợ ở trần gian. Khổ đau theo đó mà thành suối. Thử một lần nhìn lại, để vượt qua.
Các tin khác
-
» THỬ MỘT LẦN NHÌN LẠI (02/04)
-
» THỬ MỘT LẦN NHÌN LẠI (P.1) (02/04)
-
» THỬ MỘT LẦN NHÌN LẠI (P.2) (02/04)
-
» THỬ MỘT LẦN NHÌN LẠI (P.3) (02/04)
-
» THỬ MỘT LẦN NHÌN LẠI (P.5) (02/04)
