13 phẩm Trung luận

13 PHẨM TRUNG QUÁN LUẬN (8)

Phẩm PHÁ TÁC & TÁC GIẢ

04/04/2017

PHÁ TÁC - TÁC GIẢ

TÁC GIẢ là chỉ cho ch th to tác. TÁC, ch cho tác nghip, là hành động to tác. Có tác gi mi có to tác. Ngược li, nh có hành động to tác mi thy có người to tác. Chúng là mt cp duyên khi - không tánh.

Như tên ăn trộm. Tên ăn trộm là tác gi. Hành động ăn trộm là tác nghip. Có người ăn trộm, hành động ăn trộm mi hin hành. Có hành động ăn trộm, mi gi ch th thc hin hành động đó là người ăn trộm. Không có người ăn trộm thì không có hành động ăn trộm. Không có hành động ăn trộm, cũng không có người ăn trộm. C hai nương nhau mà khởi như thế nên nói DUYÊN KHI. Nói KHÔNG TÁNH vì nếu có tánh thì chúng t có, duy nht và thường tr, tc chúng không nương nhau hiện hành. Nhưng người ăn trộm và hành động ăn trộm phi nương nhau mới có, nên biết chúng không tánh. 

Khi CHẤP CÓ tác gi hoc KHÔNG tác gi - tc cho chúng có t tánh - thì xy ra các vic sau :

決定有作者
Tác giả quyết định có
不作決定業
Không tạo nghip quyết định
決定無作者
Tác giả quyết định không
不作無定業
Không tạo nghip vô định (1)

決定業無作
Quyết định nghip vô tác
是業無作者
Nghiệp y không tác gi
定作者無作
Định tác gi vô tác
作者亦無業
Tác giả cũng không nghip(2)

NGHIỆP : Hành động

Tác giả QUYT ĐỊNH CÓ, QUYT ĐỊNH KHÔNG, là cho tác gi thc có hay thc không. Nếu vy s xy ra trường hp là không có tác nghip. Vì sao? Vì có tánh thì pháp tn ti độc lp.

QUYẾT ĐỊNH NGHIP, là cho nghip có t tánh. Đây cũng da vào tính cht ĐỘC LP ca t tánh mà bin. Độc lp thì không có tác gi mà nghip vn xut hin. Nghĩa là, không có chủ thể mà hành động ăn trộm vn có. Không cn nương vào tác nghiệp mà tác gi vn hình thành. Tc không có hành động ăn trộm mà vn gi người đó là người ăn trộm. Điều này so vi thc tế thì không đúng.

Như vậy, tác gi và tác nghip không th thành lp nếu ta gắn cho chúng tánh CÓ hay KHÔNG.

Hỏi : Nếu có t tánh mà tác gi và tác nghip vn có thì sao?

若定有作者
Nếu quyết có tác gi
亦定有作業
ng quyết có tác nghip
作者及作業
Tác giả và tác nghip
即墮於無因
Liền rơi vào vô nhân (3)

VÔ NHÂN là không có nhân. Nếu cả hai cùng có mà đều có t tánh thì cái này không phi là nhân ca cái kia, nên nói VÔ NHÂN.

若墮於無因
Nếu rơi vào vô nhân
則無因無果
Thì không nhân không quả
無作無作者
Không tác không tác giả
無所用作法
Không sở dng tác pháp (4)
若無作等法
Nếu không tác, tác pháp …
則無有罪福
Thì không có tội phước
罪福等無故
Vì tội phước … đều không
罪福報亦無
Báo tội phước cũng không (5)
若無罪福報
Nếu không báo ti phước
亦無有涅槃
ng không có niết bàn
諸可有所作
Những cái có th tác
皆空無有果
Đều không, không có qu(6)

Đây là hệ qu nhn được khi pháp rơi vào vô nhân. Không nhân thì không quả. Không qu thì không nhân. Đó là qui luật tt yếu ca lut Nhân qu. Nghĩa là, nếu tác gi và tác nghip đồng có, mà đều có t tánh thì c hai sđồng không.

BÁO là chỉ cho qu báo.

KHÔNG QUẢ, là không có qu báo tt đẹp các cõi tri người, cũng không có các cõi xu ác như ởđịa ngc, ng qu và súc sanh. Nghĩa là, vic làm phước và tu thin tr thành vô ích.

SỞ DNG TÁC PHÁP là ch cho nhng pháp được dùng trong khi tạo tác. NIT BÀN là ch cho các cõi gii lành, cũng là cõi gii ca hàng La-hán, B-tát và Pht. Nếu ly Thp thin làm nhân thì tùy mc độ thô tế mà ta có cái qu là Tri, Thanh văn, Bồ-tát. Nếu Pht tánh là nhân, thì qu là niết bàn Pht.

Hỏi : Nếu tác gi và tác nghip va định va không định thì sao?

作者定不定
Tác giả định vô định
不能作二業
Không thể to hai nghip
有無相違故
Vì có không trái nhau
一處則無二
Một cht không hai (7)

ĐỊNH và VÔ ĐỊNH là hai tướng trái nhau. Nếu pháp có t tánh thì hoc là có cái này, hoặc là có cái kia, không th có trường hp va cái này va cái kia.

有不能作無
Có chẳng th to không
無不能作有
Không chẳng th to có
若有作作者
Nếu có tác tác gi
其過如先說
Lỗi kia như trước nói (8)

Đây là phần tng kết. Khi khng định tác gi và tác nghiệp là CÓ, thì qu báo ti phước đều KHÔNG. Nhân CÓ qu KHÔNG là điều vô lý, nên nói “Có chng th to không”. Trên thc tế, vn thy có qu báo, có ti phúc … thì biết không th t mt cái KHÔNG mà to thành mt cái CÓ, nên nói “Không chng thể tạo có”. Nhng th này đã được lý lun và bin gii trên, nên nói “Li kia như trước nói”.

作者不作定
Tác giả không to định
亦不作不定
ng không to bt định
及定不定業
Cùng định bt định nghip
其過如先說
Lỗi kia trước đã nói (9)
作者定不定
Tác giảđịnh bt định
亦定亦不定
Vừa định va bt định
不能作於業
Chẳng th to nên nghip
其過如先說
Lỗi kia trước đã nói(10)

Đây là tổng kết nhng phn trên để nêu bày thc tướng ca TÁC và TÁC GI. Khng định tác nghip và tác gi là CÓ, là KHÔNG, là VỪA CÓ VA KHÔNG đều không thđược. Vì thc tánh ca chúng là KHÔNG CÓ CŨNG KHÔNG KHÔNG.  

因業有作者
Nhơn nghiệp có tác gi
因作者有業
Nhơn tác giả có nghip
成業義如是
Thành nghiệp nghĩa như vậy
更無有餘事
Không sự gì khác na (11)

TÁC và TÁC GIẢ chcó thể hình thành theo quan h nhân duyên. Nhân duyên thì không tánh.

如破作作者
Như phá tác tác giả
受受者亦爾
Thọ
th gi cũng thế
及一切諸法
Và hết thy các pháp
亦應如是破
ng nên như thế phá (12)

THỌ là th nhn. TH GI là k th nhn. Nếu cho th, th gi và vn pháp là CÓ thì cũng theo cách trên mà phá.

Tổng kết

Phẩm này ch ý nói v ch th và hành động to tác. Chúng tn ti trong quan h Duyên khi. Đã là Duyên khởi thì không th khng định là CÓ hay KHÔNG, hay VA CÓ VA KHÔNG. Phm này nhm phá đi những cái nhìn thiên lệch hoc v bên này hoc v bên kia ca người đời.

Như có người tin vào thuyết s mng, chp nhn s mng như một loi định nghip có sao chu vy, không nghĩ vic phước thin có th ci hóa được vn mng ca mình, nên buông xuôi theo nghiệp lc. Có người li sng hoàn toàn không có nhân qu. Cho mi hành động đều không, chng có k to tác cũng chng có ti báo, nên hành nghip bt thin vô s. Sng vi thái độ nghiêng v CÓ hay KHÔNG như vậy, đều không đúng.

Theo cái nhìn của đức Pht, nghiệp được chia làm hai loi : Mt là định nghip, hai là bt định nghip. ĐỊNH NGHIP là loi nghip xem như đã đủ duyên, ch ch lãnh qu, không th ly vic thin ác trong hin đời thay đổi. Nếu qu xu là mt loi định nghip, thì hin đời dù làm thin bao nhiêu, tu hành chân chánh thế nào, ta vn phi tr loi nghip y. Như đức Pht tr qu báo đau đầu. Ngài Mc Kin Liên b ngoi đạo ly đá đè chết, dù ngài đã chứng qu La-hán. Hin đời đây, có những v mình thy tu hành chân chánh, nhưng vẫn gp nhng tai nn ghê rn, chng qua vì cái nhân đã gieo trong quá khứ là mt loi định nghip, không hn vì đời này các v tu hành không chân chánh.

Ngược li, nếu qu tt là mt loi định nghip thì dù hin đời sng ác thế nào, vn hưởng được cái quả tt đó. Những nhân ác gây to trong hin đời không cn được cái tt gieo trong quá khđã thành định nghip. Đó là lý do vì sao mình thấy có nhng vđạo, tàn ác hết ch nói, mà đời sng hin ti li quá sung túc phn vinh. Chng qua là vì cái nhân gieo trong quá khứ là mt loi thin định nghip.  

BẤT ĐỊNH NGHIP là loi nghip có th thay đổi theo duyên hin đời. Qu xu có thđược thay đổi nếu hin đời ta sng phước thin chân chánh. Qu tt có th thay đổi, nếu hin đời ta sng tàn hoi bt nhân. Các pháp không tánh chỉ tùy duyên hin tướng như thế, nên tùy hành động mà có tác gi, qu báo và ti phúc tương ưng. Hành động chuyn thì qu báo, ti phúc chuyn theo. Bn thân pháp không có tánh quyết định.

Tuy có định nghip, nhưng lại có bt định nghip, nên không phi ai cũng b chi phi bi mt s mnh nht định như một s người đã nghĩ, có sao chu vy, ri cúi đầu cam chu, không biết ly vic phước thin tu hành để ci hóa. Mi thđều có th ci hóa nh thân, khu và ý thin. Song sng phước thin ri mà thy vn có nhng qu xu không thay đổi, thì biết là đã gặp phi cái quđịnh nghip. Nhưng dù là định nghip, tc cnh gii bên ngoài không th thay đổi, nhưng nếu tâm đã không, thì cảnh bên ngoài cũng thành không. Nên tuy là định nghip, mà cũng như là bất định, tuy thy không chuyn mà tht là đã chuyển.

Song dù định nghip hay bt định nghip, tt cđều bt ngun t mt NHÂN, đủ DUYÊN, cho ra mt QU. Tc hình thành theo quan h Nhân duyên. Theo duyên, thì pháp không tánh. Không tánh thì tuy nghiệp có định và bt định, nhưng thực tướng ca cái định và bt định đó là không. Nói theo Trung Luận là KHÔNG ĐỊNH CŨNG KHÔNG BT ĐỊNH. Đây là một dng ca BÁT BT. Lun ti lun lui gì, ch yếu ch mun hin ra ch trng yếu này. Đó là thực tướng của tác gi và tác nghip, ca định nghip và bt định nghip.

Trong đời sng bình thường đây, ta hay có thái độ gn cht tánh cho pháp mà ch do mt duyên nào đó nó hiện hu. Như một ln bt gp ai đó lấy trm đồ ca mình. Có khi ch mt ln l tay đó thôi, nhưng mình lại có khuynh hướng ly luôn hành động nht thi y làm tánh ca anh ta. Điều này được th hin rõ mi khi mình b mt đồ. Mt đồ mà mình nghĩ ngay đến anh ta, tc là mình đã gắn cht tánh ăn trộm cho anh ta. Song “Tri kiến lp tri tc vô minh bổn”. Thy biết mà da vào cái thy biết đã qua như thế, gc ca nó là vô minh. Nhìn vn pháp qua ci gc vô minh như thế, nên cuc sng ca ta tr nên phc tp và khiến ta nhìn s vt không còn đúng như chính nó.

Các pháp vốn không tánh cđịnh, tùy nhân tùy duyên mà sanh khởi thay đổi. Như ví dụăn trộm trên, có thăn trộm ch là mt vic nht thi, vì trong điều kin khó khăn. Trong những điều kin khác anh ta không ăn trộm na. Nhưng ăn trộm cũng có th là tánh ca anh ta, vì nó đã được huân tp thành thói quen v.v… Do tp quen thành tánh, nên h cái là ăn trộm, bt k duyên chung quanh thế nào. Cho nên, người mà ta cho là ăn trộm đó, có thể là kăn trộm chuyên nghip mà cũng có th không phi kăn trộm chuyên nghip. Mun biết chính xác anh ta có ăn trộm không, phi nh vào nhiu duyên khác. Như việc điều tra, phi nương vào nhiều duyên mi có th kết lun chính xác v mt hành động phm ti. Người có trí tu là người có th nhìn pháp đúng như chính nó trong điều kin nó đang an trụ, không b mt nim chp trước nào chi phi.

Nhìn đúng, là nhìn vạn pháp như trong tình trạng nó đang hiện hình. Như người đang sân, ta thấy người đang sân. Người tham ta thy là người tham v.v... Không phi người sân mà mình thy thành vui, người tham mình thy thành sân. Tu để cui cùng nhìn mi thđảo ln như thế thì tu chi cho cc? Tu là để nhìn đúng thực tánh ca vn pháp. Sân thì biết đúng là sân, tham thì biết đúng là tham … như Phật nói, tâm tham biết tâm tham, tâm sân biết tâm sân v.v…

Trong đời thường, không phi không có lúc ta nhìn đúng hiện trng mà pháp đang an trụ. Có điều, không phi khi nào cũng đúng, vì “Kẻ mt búa nhìn đâu cũng thy người trm búa”. Mình d b quan nim và định kiến chi phi, nên trong 10 chuyn, 1 chuyn đúng mà có đến 9 chuyn sai.

Có khi nhìn đúng mà vẫn thành sai, vì tuy sân nhìn đúng sân, tham nhìn đúng tham, nhưng lại chy theo cái đúng ấy mà ni tham sân. Nên tuy đúng mà vẫn thành sai. Sai vì tướng mình thy đó không tánh. Không tánh tức không thc. Không thực mà ni sân hay tham, thì biết mình đã thấy nó thc. Thy vn pháp thc, là cái thy đã bịđiều kin hóa bi tâm thc ca chúng sanh, không phi là cái thy tương hợp vi thc tướng ca vn pháp. Sai là vì đó.

Song muốn nhìn đúng thực tướng ca vn pháp thì trước tiên phi “Phn quan t k bn phn s”. Trong cái duyên còn đang tu hành thì phải PHN QUAN là chính. Phi biết tâm tham, tâm sân, tâm si ca mình trước, mi biết đúng tâm tham, tâm sân, tâm si của người sau.