Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký Q4
DANH HIỆU NHƯ LAI - Phẩm 3
09/07/2017
(Xem tại đây)
Cũng có 4 môn : Giải thích tên phẩm, dụng ý, tông thú và giải thích văn kinh.
I. GIẢI THÍCH TÊN PHẨM
Phần này có ba :
1. TÊN PHẦN : Từ đây trở về sau, nói về phần thứ ba là Tu Nhân Khế Quả Sanh Giải Phần. Tức từ đây đến hội VI, sẽ nói về ‘nhân’ viên là ngũ vị tu hành và ‘quả’ mãn là thành tựu thập thân, để các Bồ-tát hiểu tướng nghĩa này, nên lấy đó làm tên.
2. TÊN HỘI : Phổ Quang Pháp Đường Hội. Giải thích có 5 nghĩa :
1. Giải thích theo sự : Phật ở trong pháp đường phóng quang chiếu khắp, nên gọi đường này là PHỔ QUANG. Trong đó mà thuyết pháp, nên gọi là PHÁP ĐƯỜNG. Đây thuộc Y chủ thích.
2. Giải thích theo pháp : Chân và tục trùm khắp, là PHỔ. Diệu trí chiếu suốt, là QUANG. Cảnh trí huyền đạo, là PHÁP. Phổ quang tức là pháp. Lại, giải thích Phổ Quang là trong pháp đường mà giải thích, tức y nơi chủ mà có tên. PHÁP, thì thuộc cả hai cách giải thích là Y chủ và Trì nghiệp. Còn ĐƯỜNG, chỉ thuộc về Y chủ thích.
3. Giải thích theo cảnh : PHỔ là thể. QUANG là dụng. PHÁP thì thông cả giáo nghĩa.
4. Giải thích theo trí : Giải thích như cảnh.
5. Giải thích theo lý thật : Vì một hạt bụi hay một hạnh thuộc pháp giới vô ngại đều biến khắp như lưới nhân-đà-la hiện khởi trùng trùng, nên nói PHỔ. Vì rực rỡ tròn sáng khắp pháp giới, nên nói QUANG. Không gì không phải là khuôn phép chính, nên nói PHÁP. Pháp này ứng duyên mà thành chỗ che mát, là ĐƯỜNG. Đều thuộc Trì nghiệp thích. Như lấy tam không làm môn v.v… Y theo đó thì có thể hiểu.
Lại, tín bao gồm cả sáu vị, gọi là PHỔ. Diệt hoặc hiển lý, là QUANG. Che mát các căn cơ, là ĐƯỜNG.
3. TÊN PHẨM : DANH HIỆU NHƯ LAI, thuộc Y chủ thích. Hoặc, NHƯ LAI là DANH HIỆU, vì Như Lai là một trong 10 hiệu. Trong đó, tên Thích-ca Mâu-ni là biệt danh. HIỆU là 10 hiệu mà chư Phật đồng có. Lại, hiển thể là DANH, nêu đức là HIỆU. DANH và HIỆU cũng không khác, như trong văn kinh đã nói.
II. DỤNG Ý
Có ba.
1. DỤNG Ý PHẦN NÀY : Trước đã nêu quả để khuyến sinh tín lạc. Nay nói về cái nhân của cái quả năng đắc đó, khiến khởi cái hiểu chân chánh (chánh giải), nên có phần kế này.
2. DỤNG Ý CỦA HỘI : Trong việc tu nhân, tín là mở đầu nên có hội kế này. Nghĩa là, hội trước đã nói về cảnh sở tín, nay nói về hạnh năng tín. Nghĩa lý thứ lớp hiển bày.
Hỏi : Ba phẩm Danh hiệu v.v… lại thuộc năng tín sao?
Đáp : Vì thành tựu tín tâm, nên nói trong cùng một hội .
Hỏi : Trước, há không thành tựu tín tâm sao?
Đáp : Phàm, theo cảnh mà sanh tín tâm thì cảnh có hai nghĩa :
a. Nêu cảnh pháp, nói hữu sở tại.
b. Nhiếp lấy ngay tâm, khiến thành tín hạnh.
Hội trước y cứ vào nghĩa đầu. Hội này ứng vào nghĩa sau.
Hội trước, quả nói rộng mà nhân chỉ nói lược. Nhân quả theo nhau mà đều thuộc quả.
Hội này, nhân nói rộng mà quả chỉ nói lược. Nhân quả theo nhau mà đều thuộc nhân.
Hỏi : Đều là quả pháp, sao hội trước nói về y báo mà hội này lại nói về chánh báo?
Đáp : Y báo thô, hiện, dễ thấy, nên nói trước. Chánh báo tế, ẩn, khó biết, nên nói sau. Lại, nói đến Phật thì đầu tiên cũng phải có chỗ nương là Phật độ, sau mới đến chánh báo. Phật và Phật độ không lìa nhau, nên tùy duyên mà nói, đều được.
Hỏi : Nói là tu nhân, nhưng sao hội này và hội VI, trong hội đều có quả pháp, mà các hội trung gian không có lệ này?
Đáp : Hội này là mở đầu cho việc tu nhân, cùng với quả chung một hội, mà quả là ở hội đầu. Thập địa v.v… là nhân đã thành tựu, cũng cùng với quả chung một hội, mà quả là ở hội sau. Đây là hiển, y nơi quả hải mà khởi cái nhân viên, nhân mãn lại dung về quả viên. Đây mới là tiêu xí rộng nhất của cái nghĩa ‘thủy chung’ nói trong văn kinh
3. DỤNG Ý CỦA PHẨM : Có hai cách giải thích.
1. Phẩm trước nói về quả y báo, phẩm này nói về chánh báo. Chánh báo không ngoài ba nghiệp. Phẩm này nói về thân nghiệp ứng khắp, vì danh hiệu y nơi thân mà lập. Phẩm TứĐế nói về khẩu nghiệp của Phật trùm khắp. Phẩm Quang Minh Giác nói về ý nghiệp của Phật giác (biết) khắp. Tam luân nhiếp phục, đều thuộc chánh báo. Thân nghiệp thô nhất nên nói trước.
2. Y cứ phần hỏi đáp sau. Phẩm trước đã nói về thế giới hải là để thấy tánh thể tùy duyên hiển quả tướng của nó. Phẩm này nói về nghĩa của quốc độ hải, là ứng vào duyên, hiển ngược trở lại để thấy quả thể của nó. Vì nói về tướng thật của sở y nên có phẩm này. Mỗi thứ đều thông cả tam thế gian. Suy nghĩ thì có thể thấy. Lại, hội trước là ứng vào thế giới Hoa tạng, còn đây thì ứng vào nhẫn độ.
III. TÔNG THÚ
Có ba.
1. TÔNG THÚ CỦA PHẦN NÀY : Thông cho đến hội VI. Vì đồng một lượt hỏi đáp nên phải đồng nói. Nghĩa là, hai vòng nhân quả này : Đầu là tướng, sau là thể. Trước là nhân quả duyên khởi, sau là lý thật.
2. TÔNG THÚ CỦA HỘI : Là nhân và pháp.
1. Nhân : Có hai : Sở tín và năng tín.
a. Sở tín : Hóa chủ nội chứng độ hải, là thể. Một tuần tư duy là tướng. LIỀN NHƯ HÌNH TƯỢNG ẤY, là tướng. Gia thuyết là dụng. Hiện thần thông và quang chiếu cũng là dụng. Trong phần trợ hóa, Văn Thù lấy diệu tuệ thuộc tín phần làm thể, cát tường thắng đức làm tướng, cũng lấy biến khắp tất cả xứ làm tướng, thuyết pháp lợi ích chúng sinh làm dụng, như nói kệ v.v...
b. Năng tín : Có hai : Trước, thuộc nhân. Sau, thuộc quả.
. Thuộc nhân : Chứng tịnh là thể. Đầy đủ công đức là tướng. Công nghiệp thù thắng là dụng. Đều như phẩm Phổ Hiền thuyết.
. Thuộc quả : Trong tín phần, hiển vô tận pháp giới (sở hiển) là thể, thắng đức của thập thân là tướng, ứng cơ hóa ích là dụng. Như phẩm Hiền Thủ thuyết.
2. Pháp : Có hai.
a. Cảnh : Trong tín phần, độ hải bình đẳng là thể. Ứng cơ mà thuyết thành mười cùng với thắng đức, là tướng. Cùng với hạnh giáo tương ưng là dụng.
b. Hạnh : Tín hạnh nội chứng là thể. Dung nhiếp các vị, là tướng. Thành Phật làm lợi ích cho chúng sinh, là dụng.
Hỏi : Chưa biết Phật Lô-xá-na này là Phật của giai vị nào?
Đáp : Nếu thuyết tín pháp thì Phật này thuộc tín phần. Các vị còn lại cũng theo đó mà suy.
3. TÔNG THÚ CỦA PHẨM : Có hai.
1. Tướng : Lấy danh thân Như Lai ứng khắp rộng làm lợi ích cho quần sinh làm tông.
2. Thật : Lấy quốc độ hải của thập Phật làm tông.
IV. GIẢI THÍCH VĂN KINH
Trong phần Tu Nhân Khế Quả Sanh Giải này, trường hàng với một lượt hỏi đáp, phân làm ba : Đầu là Tự phần. Kế là Thỉnh phần. Sau là Thuyết phần. Trong đó, Tự phần thông luôn đến hội VI. Thỉnh phần và Thuyết phần cũng vậy.
I. TỰ PHẦN : Có ba : 1/Nêu chỗ Phật ở, nói về khí thế gian. 2/Tán thán Phật công đức, nói về trí chánh giác thế gian. 3/Tán thán công đức của Bồ-tát, nói về chúng sinh thế gian.
1. Nêu chỗ Phật ở: Đoạn “Phật … Liên Hoa tạng”. Tương truyền, pháp đường Phổ Quang nằm ở phía đông nam cây bồ-đề, rộng khoảng ba dặm, trong Liên hà khúc. Khi Phật mới thành đạo, các rồng thấy Phật ngồi lộ thiên dưới cây bồ-đề, mới vì Phật mà làm pháp đường này. Vì loài rồng, phần nhiều làm bóng rợp che mát để cúng dường nên mới vậy. Vì pháp đường gần cây bồ-đề nên cũng nêu luôn đạo tràng. Kinh này cũng lấy cây bồ-đề làm gốc, các nơi khác đều không lìa đây.
ĐẦU TIÊN ĐƯỢC, là nhắm vào pháp tín mà nói.
LIÊN HOA TẠNG, là tín hạnh khai mở, lìa nhiễm, nhiếp đức. Với pháp cũng theo đó mà suy. Trong kinh Đại Tập, Bồ-tát chứng được Liên hoa đà-la-ni, nên chỗ thuyết pháp nào cũng có tòa liên hoa. Các nghĩa còn lại đều đồng với giải thích trước.
2. Tán thán công đức của Phật : Đoạn “Thiện giác trí … đẳng đạt ba đời”. Giải thích sự thù thắng của trí chánh giác thế gian. Trong đó có 10 câu, đồng với 10 câu đầu trong 21 loại công đức thù thắng của Thọ dụng thân nói trong Nhiếp Luận. Như đã gom đầy đủ trong 21 câu đầu ở hội VII sau. Nay y theo Nhiếp Luận và Phật Địa Luận giải thích 10 câu này. Câu (1) là tổng. 9 câu sau là biệt.
Câu (1) : THIỆN GIÁC TRÍ, gọi là chánh giác. Đầy đủ 9 đức sau, nên gọi là THIỆN GIÁC. Vì thuận lý lìa tà, nên gọi là CHÁNH, là THIỆN. Khai sáng chiếu xét, gọi là GIÁC, cũng gọi là TRÍ.
Câu (2) : KHÔNG CÓ HAI NIỆM, là nhất hướng vô chướng công đức. Vì lìa hai chướng, vì khác phàm phu và Tiểu thừa. Lại, vào viễn thời, cảnh phương đẳng không có hai thứ hiện hành là tri và bất tri. Do không có hai niệm nên gọi là thiện giác trí.
Câu (3) : LIỄU ĐẠT PHÁP TÁNH, luận gọi là thú vô tướng pháp. Đây là nhập công đức bất nhị, cũng gọi là công đức điều hóa phương tiện. Vì tự mình (tự) có thể nhập vào chân như thanh tịnh lìa tướng hữu vô (là ĐIỀU). Cũng khiến cho người khác (tha) nhập được (là HÓA).
Câu (4) : TRỤ PHẬT SỞ TRỤ, là công đức quán sở điều hóa. Vì trụ đại bi, thường quán thế gian. Cũng là công đức nhậm vận vô công dụng, lợi lạc cho chúng hữu tình không thôi dứt. Cũng là an trụ nơi Thánh, Thiên và Phạm trụ.
Câu (5) : ĐỒNG VỚI CÁC NHƯ LAI, là được sự nghiệp công đức tương tự như chư Phật. Nơi pháp thân, nương nơi ý lạc mà tác nghiệp vô phân biệt. Tức ba pháp lý, trí và lợi sinh không phân biệt.
Câu (6) : ĐẾN XỨ VÔ NGẠI, là công đức đoạn hẳn sở trị. Vì đạo tu đối trị hai chướng thành tựu hiện tiền. Đã đến xứ sở y thú, là chỗ giải thoát tất cả chướng.
Câu (7) : ĐẦY ĐỦ PHÁP BẤT THỐI, là công đức điều phục ngoại đạo. Vì chứng được giáo pháp không bị ngoại đạo chuyển mà hàng phục ngoại đạo, hiển chánh đạo pháp.
Câu (8) : CẢNH GIỚI KHÔNG HOẠI, là công đức điều phục ma oán. Vì trong nghịch thuận, cảnh không thể làm chướng tâm. Tuy tại thế gian, mà bát pháp không nhiễm. Nói MA, vì cảnh thế gian làm nhiễu tâm chướng thiện, đây thì hàng phục nó.
Câu (9) : TRỤ BẤT TƯ NGHỊ, là công đức an lập giáo pháp. Vì giáo thù thắng được nói vượt khỏi cảnh giới tầm tư, nên nói BẤT TƯ NGHỊ.
Câu (10) : ĐẲNG ĐẠT BA ĐỜI, là công đức ký biệt tam thế. Vì ký biệt quá khứ vị lai đồng như hiện tại. Phân minh mà không phân biệt, nên nói ĐẲNG ĐẠT.
Đầy đủ 9 câu biệt sau thì thành một câu tổng đầu. Đồng, dị, thành, hoại cứ theo đó mà suy thì hiểu.
3. Tán thán công đức của Bồ-tát : Đoạn “Đang cùng ở … vị lai”. Giải thích về chúng sinh thế gian. Có hai : Trước, phân định về người. Sau, tán thán thật đức.
3/1. Phân định về người : Đoạn “Đang cùng … tập hội”.
. Nhiều không phải ít : Vì như số thập Phật quốc độ vi trần.
. Lớn không phải nhỏ : Vì là đại Bồ-tát.
. Cuối không phải đầu : Vì là hàng Nhất sinh bổ xứ.
. Mới không phải cũ : Vì từ phương khác đến tập hội.
4 vị đó lấy trước so sau, triển chuyển kỳ đặc, đều theo đó mà biết.
NHẤT SINH, có ba nghĩa : Một, ứng vào người. Hai, ứng trên trời. Ba, ứng vào thân hạ sanh. Đây là ở hóa tướng. Nếu nhắm vào thật báo, thì trong bốn loại báo biến dịch, chỉ có một vị rốt sau không có sanh tử là còn tồn tại, nên nói NHẤT SANH. Ý kinh này, nhắm vào nghĩa trước mà nói.
3/2. Tán thán thật đức : Đoạn “Liễu đạt … vị lai”. Có 8 câu. Nghĩa thì có 7 đối.
1. Bệnh và thuốc : Câu (1) : Biết rõ căn khí chủng tánh của chúng sinh. Câu (2) : Thâm chứng pháp giới đã được thọ ký.
2. Nhiễm và tịnh : Theo Nhiếp Luận thì, trên Y tha khởi mà biến kế nhiễm phần, gọi là sanh tử. Trên y tha khởi mà viên thành tịnh phần, gọi là niết bàn. Hai phần không khác, gọi là một Y tha. Nếu thấy một phần, tánh của phần còn lại không khác. Cho nên, kinh nói: “Như Lai không thấy sanh tử, không thấy niết bàn”. Trung Luận cũng nói: “Thế gian cùng niết bàn, không hào ly sai biệt”. Đây gọi là tịnh nhiễm vô ngại. Tứ cú dung nhiếp :
. Hoặc lấy gốc theo ngọn, thì chỉ có thế gian.
. Hoặc lấy ngọn theo gốc, thì chỉ có niết bàn.
. Hoặc dung nhau mà cả hai cùng hiện.
. Hoặc hình và đoạt mà cả hai cùng mất.
Khéo quán lý này, gọi là KHÉO SUY LƯỜNG. Hằng quán không ngưng, gọi là THƯỜNG KHÉO SUY LƯỜNG.
3. Nhân - quả : Là báo quả và nghiệp nhân với mọi thứ sai biệt của chúng sinh. Hiểu rõ các thứ đó đều y nơi các thức và tâm hành của chúng sinh mà được thành lập.
4. Giáo - nghĩa : NGHĨA, là nghĩa sở thuyên của các pháp. VỊ, là giáo năng thuyên của các pháp. Gọi là cú vị thân.
5. Trói buộc - giải thoát : Quán tướng THẾ GIAN là không, nên gọi là LY THẾ GIAN PHÁP, không phải đợi thế gian hoại rồi mới nói là ly.
6. Lý - sự : Pháp do duyên khởi gọi là HỮU VI. Chân lý không tánh, gọi là VÔ VI. Thấu được duyên chính là chân mà không hoại duyên khởi, gọi là PHÂN BIỆT RỐT RÁO TÁNH VÔ VI …… Không lý chỉ còn sự mà không mất lý, gọi là PHÂN BIỆT RỐT RÁO TÁNH HỮU VI. Văn kinh sau nói: “Nơi hữu vi giới xuất hiện vô vi giới mà cũng không hoại hữu vi giới”. Vô vi cũng như vậy. Có thể theo đó mà suy.
7. Quá khứ - hiện tại - vị lai : Biết ba hiện tại, mỗi thứ đều nhiếp quá khứ và vị lai, tương tức tương nhập nữa mà thành mười đời. MĨ, như chữ vô (không). QUÁN, là thông. Với ba đời, không gì không thông đạt.
Từ trên đến đây là Tự phần, giải thích xong.
II. THỈNH PHẦN : Đoạn “Bồ-tát đều khởi … mà hiện”. Phần thỉnh này thông luôn phần văn thỉnh của 5 hội sau. Có ba : Một là niệm thỉnh. Hai là niệm vấn. Ba là niệm hiện.
Trong phần niệm vấn, pháp sư Dụ Phạm v.v… phân làm 124 câu hỏi : 10 câu đầu hỏi về pháp thân, là tự thể của hạnh. 100 trăm câu kế hỏi về báo thân, là hạnh khởi tu. 14 câu sau hỏi về phương tiện thân, là hạnh bình đẳng. Nếu hợp 90 câu hỏi giữa thành 9 câu, thì còn 43 câu hỏi.
Pháp sư Quang Thống hợp “Tâm tùy hỉ …” thành một câu, thì còn 34 câu. 10 câu đầu hỏi về Phật pháp tiền tế. 10 câu kế hỏi về Phật pháp trung tế. 14 câu sau hỏi về Phật pháp hậu tế. Trả lời thì đến hội VI sau mới trả lời.
Nay y đó, phân toàn bộ phần này thành 3 phần để giải thích : 10 câu đầu, hỏi về quả sở y của nhân. 10 câu kế hỏi về nhân sở khởi của quả. 14 câu sau hỏi về quả sở đắc của nhân. Nhiếp Luận nói: “Không gì không từ pháp thân này lưu xuất. Không gì không chứng lại pháp thân này”, là muốn nói, nhân nương nơi quả mà thành, rồi ấn (khắc) lại nơi quả. Quả hay cho ra nhân, lại làm cho nhân thành quả. Nhân quả nương nhau mà thành duyên khởi không tánh, không có tự tánh. Tức chân pháp giới không tánh là tánh thể không làm chướng ngại duyên khởi, nên chân pháp giới không hoại nhân quả. Nghĩa của thật lý nhân quả duyên khởi là xét theo đây mà lập.
10 câu hỏi đầu, đáp chung trong 3 phẩm đầu của hội này. Nếu phân riêng thì phẩm TứĐế trả lời 1 câu thuyết pháp. Phẩm Như Lai Quang Minh Giác trả lời 2 câu thế lực và chánh giác. Phẩm này trả lời các câu còn lại thuận với văn kinh. 3 phẩm Minh Nan v.v… tiếp theo, tự nó có riêng phần hỏi. Vì tín không thành vị, nên không có câu hỏi về Thập tín, không như với Thập trụ v.v...
1. Hỏi về quả sở y : Đoạn “Phật độ … chánh giác” 10 câu. Có hai cách giải thích :
1/1. Nhắm vào hai quả y và chánh mà hỏi :
Câu (1) : Hỏi chung về y báo là tịnh độ.
Câu (2) : Hỏi chung về chánh báo là pháp thân.
Câu (3) : Hỏi về các vật dụng trang nghiệm ở tịnh độ.
Câu (4) : Hỏi về pháp thân đã chứng.
Câu (5) : Hỏi về quốc độ ly nhiễm.
Câu (6) : Hỏi về việc thuyết pháp sau khi đã chứng pháp thân.
Câu (7) : Hỏi về thể của quốc độ.
Câu (8) : Hỏi về quang luân của chánh báo.
Câu (9) : Hỏi việc ứng duyên khởi quốc độ.
Câu (10) : Hỏi các việc hiện tám tướng của bậc Chánh đẳng giác.
1/2. Nhắm vào cõi hải mà hỏi : Theo kinh Anh Lạc và văn kinh sau thì hội này nói về nghĩa của quốc độ hải. Trong 10 câu, 5 câu đầu nói về công đức đầy đủ của quốc độ. 5 câu sau nói về thể dụng đầy đủ của quốc độ.
Một câu đầu là tổng. 9 câu sau là biệt.
QUỐC ĐỘ có 9 nghĩa :
1. Biệt trụ : Liên hoa màu hồng v.v… như Nhiếp Luận đã nói.
2. Cụ đức : Lý, hạnh, sự v.v…mỗi thứ đều có nghiêm sức.
3. Quĩ trì : Cõi và pháp, tỷ chứng và sở đắc không đồng.
4. Ly nhiễm : Tự tánh cùng với tướng và dụng đều thanh tịnh.
5. Thành giáo : Ứng vào lời mà hiển quốc độ, như Thuyết thế giới v.v…
6. Tự thể : Vì lý trí thức sự đều có thể.
7. Diệu dụng : Uy quang nhiếp phục v.v…
8. Duyên khởi : Tùy căn cơ của chúng sinh mà cõi Phật khởi. Cũng tùy theo cõi mà khởi nhân hạnh. Cũng tùy theo cõi mà Phật xuất hiện, nên nói khởi. Đây là nói theo kinh Đâu Suất. Cũng theo nhân duyên đầy đủ mà quốc độ khởi, như Khởi đủ nhân duyên thế giới hải v.v...
9. Hiện giác : Các cõi hải hiện thành chánh đạo, vì y và chánh vô ngại.
Các nghĩa còn lại, theo phần trả lời sau sẽ hiểu.
2. Hỏi về nhân sở khởi : Đoạn “Có thể phân biệt … cạn ái dục” có 10 câu, hỏi về nhân. Đáp, thì từ phẩm Phật Thăng Đỉnh Tu-di cho đến Bồ-Tát Trụ Xứ.
9 câu đầu hỏi về các giai vị thuộc tự hạnh. Một câu sau hỏi về tùy duyên hóa vật hạnh.
2/1 Chín câu hỏi đầu : Đoạn “Có thể phân biệt … thập đỉnh của Bồ-tát”.
THẬP TẠNG : Vì sao khi hỏi thì sau Thập hồi hướng mà khi đáp thì trước Thập hồi hướng? Vì tạng có hai nghĩa :
. Nghĩa xuất sinh : Là xuất sinh hàng đăng địa chứng trí, nên sau Hồi hướng.
. Nghĩa thu nhiếp : Là thu nhiếp các hạnh khiến thành tựu Hồi hướng, nên trước Hồi hướng.
Do hai nghĩa này, hai chỗ cùng hiển mà không trái nhau.
THẬP NGUYỆN, đáp trong phần Sơ địa.
THẬP ĐỊNH, đáp trong phẩm Thập Nhẫn. Vì Quán tâm nạp lý là nhẫn. Chỉ (dừng) tâm không loạn, là định. Chỉ quán vô ngại, chỉ là nhất tâm. Hai chỗ mỗi chỗ hiển một nghĩa. Vì các Bồ-tát duyên cảnh giới chân tục đều có hai nghĩa : Một, không điên đảo. Hai, không tán loạn. Đều như Lương Luận đã nói.
THẬP TỰ TẠI, đáp trong phẩm Thập Minh. Vì có tác dụng minh ủy nên lập hai tên. Trong kinh Bồ-Tát Bản Nghiệp, ngay phần hỏi của kinh cũng dùng từ Thập minh. Còn kinh Đâu Sa thì gọi là Thập phi pháp (十飛法).
THẬP ĐỈNH, không thấy đáp riêng. Cổ nhân, có người dựa vào kinh Phạm Võng, tính theo các hội rồi lọc ra. E khó mà dùng theo đó. Nay, tìm trong kinh Phạm Võng, trong 11 chỗ thuyết pháp thì có 6 chỗ đồng với đây. Kinh đó nói, Hóa Lạc Thiên thuyết Thập thiền định. Sơ thiền thuyết Thập kinh cang tâm. Nhị thiền thuyết Thập nguyện. Tam thiền thuyết Thập nhẫn. Tứ thiền, thì ở cung Ma-ê-thủ-la thuyết pháp môn tâm địa. Không thấy nói gì đến trùng hội Phổ Quang và Kỳ Hằng trùng các. So với kinh đó, câu hỏi này có cái đồng cái không đồng, nên khó dùng.
Có người nói: “Đáp trong phẩm Bất Tư Nghị”. Nhưng phẩm Bất Tư Nghị đã đáp cái quả sở đắc sau, không thể đáp cho câu hỏi này. Riêng phẩm A-tăng-kỳ, nói về thập đại số, là cực số chung cùng của nhân vị, nên có thể coi đó là Thập đỉnh. Song trong phần đầu của phẩm này đã tự có câu hỏi, nên nói Thập đỉnh thuộc phẩm này cũng khó.
Trong phẩm Thọ Mệnh, có mười tầng Phật độ, lên cho tới tột cùng thì cõi Phật của ngài Hiền Thủ là mé cao nhất, nên có thể coi đó là đỉnh. Vì có mười tầng nên nói là Thập đỉnh. Vậy cũng được, không có gì trở ngại. Vì đầu phẩm này không có câu hỏi, nên có thể lấy đó làm câu đáp cho phần hỏi này. Ở đây, vọng hạ tôn cao là hỏi, còn văn kinh sau thì ngay đương xứ mà đáp liên tục. Phần văn kinh sau nếu có phần hỏi riêng thì ở đây không có hỏi. Nếu sau không có hỏi mà có thuyết giảng, chính là trả lời cho câu hỏi này.
2/2 Một câu sau : Câu “Tùy tâm hỉ … cạn ái dục” :
1/ Hỏi về việc tùy duyên khởi hạnh của Bồ-tát : Được trả lời trong phẩm Bồ-tát Trụ Xứ. Vì văn kinh phần đó nói Bồ-tát tùy căn khí của từng chúng sinh, ứng khắp các nơi mà khởi thắng hạnh. Tức nhắm vào hạnh năng y, là hỏi. Ngay nơi hạnh sở trụ xứ, là đáp. Y đây mà phân định Phật pháp trung tế, hỏi đáp liền nhau cực rõ.
2/ Hỏi về việc tùy duyên giáo hóa chúng sinh : Một, thấy chút thiện nào của người cũng sinh tâm tùy hỉ. Hai, giáo hóa chúng sinh hầu tiếp nối hạt giống Phật. Nghĩa là, gieo hạt giống Phật ở nơi ruộng chúng sinh. Hai thứ này là hỏi về tâm giáo hóa tha nhân. Kế, là hỏi về hạnh giáo hóa tha nhân: Vì sao không đoạn? Vì cứu độ. Cứu chỗ nào? Nơi phiền não vọng tưởng. Cứu ra sao? Biết căn hạnh. Lấy gì cứu? Thông pháp dược. Làm sao để cứu độ thành tựu? Khiến ly tập cấu, vượt khổ nạn, tháo đạo nghi, chứng ái diệt. Theo thứ tự của bốn câu thì có thể hiểu.
3. Hỏi về quả sở đắc : Đoạn “Phật vô thượng địa … mà hiện”. Phần hậu tế này có 14 câu hỏi. Đáp, thì từ phẩm Bất Tư Nghị đến phẩm Hiền Thủ.
THẮNG PHÁP là thắng pháp bồ-đề, đồng với văn trên.
BẤT ĐỘNG CHUYỂN, là vô công dụng. Các nghĩa còn lại đã giải thích ở hội trước.
III. THUYẾT PHẦN : Từ “Lúc ấy Thế Tôn …” cho đến 5 hội sau, đáp cho các câu hỏi vừa rồi. Phân làm ba : 1/Hội này, trả lời 10 câu hỏi Phật pháp tiền tế. 2/Từ hội III trở đi trả lời cho phần Phật pháp trung tế. 3/Từ phẩm Bất Tư Nghị trở đi, trả lời cho phần Phật pháp hậu tế.
I. Trả lời 10 câu hỏi về Phật pháp tiền tế : Đầu tiên là tập chúng, hiển sự đầy đủ. Sau, là đối duyên chánh thuyết.
1. Tập chúng : Trước, là năng tập. Sau, là sở tập.
1/1. Năng tập là Phật : Có hai ý : Đối với năng tập, là trả lời câu hỏi. Đối với sở tập, là tập chúng.
1/ Trả lời câu hỏi : BIẾT TÂM NIỆM, là lĩnh hội được những gì đã hỏi, cũng là nêu bày luôn khí lượng của tâm thọ pháp. LIỀN BẰNG HÌNH TƯỢNG HIỆN LỰC THẦN THÔNG, là hiện hình tượng để trả lời, cùng khắp các căn khí. Y theo những tâm niệm đó là y theo 124 câu hỏi trên. Từ sau cho đến hội VI, thuyết các pháp môn, là trả lời cho các câu hỏi đó. Không gì không đốn hiện đầy đủ và rõ ràng trong Như Lai pháp giới thân. Cho nên, khai triển đến 5 hội sau mà không dàn trải. Tuy một thân đốn hiện mà không bức ngặt. Sáu vị rõ ràng mà không riêng khác. Viên dung, tương tức, tương nhập mà không hoại, thực là do đó.
Khiến đại chúng thấy đó, lấy ốc hư khâm tắc làm câu trả lời. Vì tâm niệm của chúng Bồ-tát là “Nguyện vì chúng con mà hiện”, nên nay hiện ra. Văn kinh sau nói “Trong pháp thân thanh tịnh, không có hình tượng nào không hiện”. HÌNH TƯỢNG, do duyên tụ hội mà thành, là nghĩa vô ngại. Do khí lượng của tâm chúng sinh ấn nơi Phật thân mà thành hình tượng này. Cũng là do Phật thân ứng cơ mà hiện hình tượng này. Mỗi thứ đều có hai nghĩa không và hữu, hữu lực và vô lực, tứ cú dung nhiếp, là nghĩa vô phân biệt. Cũng là dùng cái ứng cơ hiện hình động nhiếp công năng làm lực thần thông.
2/ Tập chúng : Thế Tôn tập hội đại chúng. BIẾT TÂM NIỆM, là nói lên lý do tập chúng. BẰNG HÌNH TƯỢNG, là xứng pháp hợp cơ. HIỆN LỰC THẦN THÔNG, là triệu chúng tập hội. Cũng như hình tượng đã thuyết mà hiện thần lực, khiến Bồ-tát ở phương khác thấy thần thông quang minh này, biết Phật thuyết pháp gì mà tậpï hội về. Cũng khiến cho đại chúng ở đây thấy hình tượng đó của Phật, biết Phật định thuyết loại pháp mà ta đã hỏi, hoan hỉở lại.
Vì sao biết? Vì thân quang của Như Lai có hai loại :
a. Mật nên khó biết.
b. Hiển nên có thể biết. Trong loại thân quang có thể biết, tùy sởứng định thuyết pháp gì mà thân quang của Phật, trước hiện ra hình tượng loại đó, khiến đại chúng thấy xong, liền biết Phật sẽ thuyết pháp gì, như thời này thuyết Bát-nhã, thời kia thuyết Pháp Hoa v.v... nên nói BẰNG HÌNH TƯỢNG HIỆN LỰC THẦN THÔNG.
1/2. Sở tập là đại chúng: Trong mười phương, mỗi phương đều có tam thế gian. Mỗi phương đều đủ 8 nghĩa : 1/Xa gần. 2/Xuất xứ tên quốc độ. 3/Nếu Phật hiệu. 4/Bồ-tát thượng thủ. 5/Nhiếp quyến thuộc. 6/Đến xứ này rất cung kính. 7/Hóa ra tòa ngồi. 8/Theo phương của mình mà ngồi.
Thế giới đồng một tên SẮC, là biểu trưng ở Tín vị, pháp tướng còn thô nên hiển rõ ràng. Phật đồng một tên TRÍ, là biểu trưng trong Tín vị, thủy giác tối sơ từ bản giác khởi lên. Bồ-tát đồng một tên THỦ, biểu trưng Tín là vị đầu tiên trong nhân địa.
Tên VĂN-THÙ lược có 5 nghĩa :
1. Danh : Văn-thù-sư-lợi, còn gọi là Thi-lợi hoặc Mạn-thù-thất-lợi. Dịch thành Kính Thủ, Truyền Thủ, Nhu Thủ, Diệu Đức, Diệu Cát Tường. 10 vị Bồ-tát ở đây, theo bản Phạn, đều gọi là Thất-lợi. Trong kinh Đâu Sa, đều gọi là Sư-lợi. Thứ gì thuộc vị cao nhất, Phạn ngữ gọi là Thất-lợi. Cát Tường, Diệu Đức v.v… cũng là Thất-lợi, nên khi dịch ra, danh tự có chỗ không đồng.
2. Xuất xứ : Theo kinh Văn-thù Bát Niết-bàn, Văn-thù sinh tại đất này, trong một gia đình Bà-la-môn. Sau khi Phật diệt độ 400 năm, ngài mới nhập niết-bàn trên đỉnh Hương Sơn. Nếu y theo kinh này, thì Đông phương Bồ-tát hiện ở núi Thanh Lương. Kinh Tịch Điều Âm cũng nói: “Phương đông này, cách đây vạn thế giới Phật, có nước tên Bảo Trụ, Phật hiệu Bảo Tướng”, là quốc độ của Bồ-tát này vậy.
3. Sư tư : Theo kinh Phóng Bát, xưa kia Văn-thù là thầy của Thích-ca. Kinh này thì nói Văn-thù là mẹ của ba đời chư Phật, là thầy của tất cả Bồ-tát.
4. Địa vị : Nói về nhân, Văn-thù là Bồ-tát Thập địa, vì thường an trụ tam-muội Thủ Lăng Nghiêm. Nói về quả, theo kinh Thủ Lăng Nghiêm, Văn-thù thành Phật ở Nam Phương Bình Đẳng thế giới, hiệu Phật là Long Chủng Thượng.
5. Đức dụng : Theo kinh Như Huyễn Tam-muội, Hàng Ma Tràng v.v… là lực điều sinh. Theo kinh Hiện Bảo Tạng, Ca-diếp Bấn v.v… là lực thắng thông. Theo luận Không Quyết Định, Nan Phả thì nó tương đương với tuệ lực. Đây là ứng với Tam thừa. Theo phẩm Như Lai Quang Minh Giác sau, nhất thiết xứ v.v… là Nhất thừa.
Bồ-tát ở các phương đều ĐẦU MẶT LỄ SÁT CHÂN PHẬT : Lễ Phật, nghĩa của nó lược làm 3 môn: Lễ số, kính nghi, minh đắc quả.
a. Lễ số : Là tam nghiệp lễ. Có hai ý : Một, vì có ba chỗ lễ. Hai, hiển Phật có ba thứ thiên nhãn, thiên nhĩ và tha tâm.
b. Kính nghi : Có 7 thứ : Như khổng mục v.v…
c. Đắc quả : Có hai : 1/Gần, thì được ngũ quả v.v… 2/Xa, thì được Phật quả, như nói trong phẩm Hiền Thủ v.v…
TẠI PHƯƠNG … MÀ NGỒI … : Theo luận Đại Trí Độ q.12 thì ngoại đạo khác pháp khinh Phật, nên ngồi. Bạch y như khách, nên ngồi. Tất cả năm chúng, thân tâm thân thích với Phật, nên đứng. Nếu là hàng đại A-la-hán, sự đã xong thì cho phép ngồi. Tam quả còn lại không được ngồi, vì đại sự chưa xong. Như trọng thần của quốc vương thì được ngồi, còn lại tất cả đều đứng. Nay ở đây, toàn là hàng Đại Bồ-tát, nên cho ngồi.
2. Đối duyên chánh thuyết : Phân làm hai. 3 phẩm đầu đáp các câu hỏi trước. 3 phẩm sau, nhân nơi luận mà sinh luận. Hỏi riêng đáp riêng. Cũng có thể giải thích : 3 phẩm đầu là hạnh duyên năng phát. 3 phẩm sau là hạnh tướng sở phát. Cũng có thể giải thích : 3 phầm đầu là quả cảnh sở duyên. 3 phẩm sau là nhân hạnh năng duyên. Vì tín hạnh này là phương tiện trụ, tự nó không có vị riêng, nên đầu tiên không hỏi.
2/1 Ba phẩm đầu: Phân làm năm. 1/Tán thán đại chúng hiếm có. 2/Đáp và hỏi tổng nêu. 3/Hỏi thứ đã nêu để hiển thể. 4/Hỏi thể để hiển tướng. 5/Hỏi tướng để rõ dụng.
1. Tán thán chúng hội chưa từng có :
Hỏi : Vì sao hỏi Phật mà Văn-thù đáp?
Đáp : Vì Văn-thù đồng với Phật tuệ. Vì cát tường diệu tuệ suốt hết cõi hải. Vì làm tăng thêm tâm vui thích cho Bồ-tát.
Hỏi : Sao không nhập định?
Đáp : Vì tín không có giai vị.
Hỏi : Hội trước há có giai vị sao?
Đáp : Vì trước là quả đức sâu xa vi tế.
Hỏi : Đây há không có quả pháp sao?
Đáp : Vì làm thành nhân. Vì nhân đầy đủ, rộng lớn và thông hết.
Tán thán chúng hội chưa từng có, lược do hai nghĩa :
a. Vì một hội này là tất cả các hội xứ hư không, pháp giới v.v…
b. Vì hội này là pháp môn, nên đều như phẩm Như Lai Quang Minh Giác đã thuyết.
2. Đáp hỏi tổng nêu :
1.Trả lời câu hỏi : PHẬT XUẤT THẾ là trả lời hai câu hỏi 7 và 8. A-NIỆU BỒ-ĐỀ là trả lời câu hỏi thị hiện thành chánh giác trước. PHẬT XUẤT THẾ, cũng có thể trả lời cho câu thị hiện thành chánh giác. Còn hai câu hỏi 7 và 8 thì lượt qua không trả lời. A-NIỆU BỒ-ĐỀ là thông kết. Các câu còn lại đồng với trước, có thể tự hiểu.
2. Tổng nêu : KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN ở câu đầu là chung cho cả các câu sau, nên kết luận ĐỀU KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN.
KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN, trong đó đại ý nằm ở nhất vị pháp giới. Nghĩa phân làm hai : Một là cõi hải năng tùy. Hai là cơ duyên sở tùy. Hai thứ này không hai, dung thông, vô ngại. Nếu lấy duyên theo thể thì ngay tướng mà viên dung, không có phân biệt nào có thể phân biệt, ngôn thuyết không thể đến. Nếu lấy thể theo duyên, thì ấn thành duyên khởi sai biệt. Ứng vào mặt duyên khởi với hình thù sai biệt này mà hiển ngược lại cõi thể diệu cực khó nghĩ bàn, là ý đó. Do nghĩa này, nên nghĩa KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN có 3 loại :
a. Nương vào duyên mà giải thích, hiển ngược lại nghĩa của cõi thể dứt duyên. Đây là lời ở trong duyên mà ý thì ở ngoài duyên, nên nói KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN.
b. Đã ứng vào duyên để hiển quốc độ - nhưng vì duyên khởi, số nhiều như bụi, khiến cho thể của quốc độ theo duyên ấn thành sai biệt – thì chính là nói : Quốc độ không sai biệt mà sai biệt, sai biệt mà không sai biệt, nên KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN.
c. Duyên thì không có duyên độc lập, vì thể tức là duyên. Cho nên, duyên khởi sai biệt chính là cõi hải thậm thâm. Đây là lý cực cận mà khó biết, nên KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN.
3. Hỏi thứ đã nêu để hiển thể : Đoạn “Vì sao? Vì chư … hư không pháp giới”.
1. Hỏi những gì đã nêu : Hỏi VÌ SAO, là vì sao biết KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN?
2. Hiển thể : Vì pháp của chư Phật tùy thuộc vào chỗ giáo hóa, đồng với pháp giới. Vì hai môn song dung. Vì không có bờmé. Đây là ứng vào thể mà giải thích sơ.
4. Hỏi thể để hiển tướng : Đoạn “Vì sao? Vì trong thế giới … Sở kiến cũng khác”.
1. Hỏi về thể : Hỏi VÌ SAO là vì sao biết các thứ sai biệt vô biên đồng với pháp giới?
2. Hiển tướng : Chưa nói gì về mười phương tận hư không thế giới, chỉ nhắm vào thế giới Sa-bà này mà nói. Lược có 10 loại để hiển vô tận. Phần vô biên giới còn lại, cứ theo đó mà suy.
CÁC LOẠI THÂN v.v… có tôn đức giải thích: “Là Phật thân v.v… nên văn kinh sau mới nói PHẬT HIỆU KHÔNG ĐỒNG, là giải thích CÁC LOẠI DANH”. Song xét kỹ văn kinh đây và theo kinh Đâu Sa, thì phần này chỉ mới nói về chúng sinh sở hóa, chưa nói gì đến Phật năng hóa. Câu này dài, là do ngữ pháp của Tây quốc. Phải nói là: “Giáo hóa tất cả các loại thân, …” cho đến “ … chúng sinh không đồng” là một câu. “Sở kiến cũng khác” là một câu riêng. Nghĩa thì có thể hiểu. Chỉ vì Phật độ bình đẳng, không có sự phân biệt nào có thể phân biệt, nên phải nương vào sự sai biệt của chúng sinh sở hóa mà nói về tướng sai biệt của cõi hải.
10 loại sai biệt :
1. CÁC LOẠI THÂN : Tổng nêu thân ngũấm sai biệt.
2. CÁC LOẠI DANH : Y nơi thân mà lập tên không đồng.
3. TẤT CẢ XỨ : Thân ở mọi nơi.
4. HÌNH SẮC : Tùy các loại xứ mà có các loại hình. SẮC là trắng, đen v.v…
5. THỌ MỆNH NGẮN DÀI : Tùy thân ở các cõi mà mệnh có ngắn dài.
6. CÁC ĐẮC : Thức hay thủ đắc các cảnh. Cũng là phần hạn chứng đắc trong tu hành.
7. CÁC NHẬP : Cảnh thể (體) nhập căn, cũng là trí hay nhập pháp, cũng là ngộ nhập môn sai biệt.
8. CÁC CĂN : Nói lược thì có 6 căn, nói rộng thì đến 22 căn. Hoặc ngũ căn là tín v.v… Hoặc lợi, độn, sinh, thục v.v… Như các căn hải xứ của phần Hồi hướng thứ 9 đã nói.
9. SINH XỨ : Các thú sai biệt. Hoặc là tứ sinh, ngũ thú, như sinh hạnh trù lâm …
10. NGHIỆP BÁO : Nghiệp khác thì báo khác, như nghiệp hạnh trù lâm v.v...
Theo bản Phạn cũng như kinh Đâu Sa, mỗi câu đều có hai chữ CÁC LOẠI. Đây đã lược bớt nên như vậy. Vì thế, kết luận CÁC LOẠI CHÚNG SINH KHÔNG ĐỒNG.
SỞ KIẾN CŨNG KHÁC : Không phải chỉ có y và chánh của nghiệp báo sai biệt vô biên, mà trong tâm nhớ nghĩ, thấy, hy vọng mỗi loại đều khác. Kinh Đâu Sa gọi là MỖI LOẠI ĐỀU CÓ NGHE ÂM PHẬT. Lại, 9 câu trước nói về báo sai biệt. Câu (10) nói về nghiệp sai biệt. Câu này nói về cái thấy (kiến) sai biệt.
Nói phần hạn sai biệt của chúng sinh đây là tướng của quốc độ hải, thì có 3 nghĩa giải thích, như đã nói ở phần KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN trên. Nhân đó có thể biết về dụng của nó.
5. Hỏi tướng để hiển dụng : Đoạn “Vì sao? Này các Phật tử … ”.
1. Hỏi tướng : Sở tùy sai biệt (là căn khí) thì có thể như thế, còn năng tùy sai biệt làm sao có thể thấy?
2. Hiển dụng : Vì căn cơ khác nhau, nên ấn hiện Phật pháp thành nhiều môn, khó có thể nói đủ. Theo các luận thì dụng có ba loại :
a. Thân danh ứng khắp.
b. Ngôn giáo trùm khắp.
c. Quang luân chiếu khắp. “Đều cùng …” trở đi là đó.
Hoặc phân làm hai :
a. Phật : Thân và danh.
b. Pháp : Thật và quyền.
Trong đó, Phật thân và thật giáo sai biệt khó phân, nên cùng nói trong phẩm Như Lai Quang Minh Giác. Phật danh và quyền giáo dễ phân sai biệt, nên luận thành hai phẩm riêng.
Giải thích chỗ này như sau :
Hai phẩm đầu, Văn-thù nêu NGHĨA, đáp những câu đã hỏi trước. Một phẩm sau, Như Lai nêu SỰ đáp giải thích, thành tựu nghĩa Văn-thù đã nói. Trong hai phẩm đầu này, nói hai pháp danh và giáo, sai biệt như đã hỏi trên. Nghĩa Phật độ sai biệt v.v… thì khó nghĩ suy, đồng với pháp giới. Ý là ở chỗ này, thành đáp chung.
GIẢI THÍCH DANH : Trước, nêu danh riêng. Sau, giải thích lý do riêng.
1. Nêu danh : Đầu hỏi, sau giải thích. Trong phần giải thích có ba : Trước, nói về thế giới này. Kế, nói về thập thế giới. Sau, nói về tận cùng pháp giới.
Hỏi : Trong đó, danh hiệu chỉ là của Lô-xá-na hay chung cả các Phật khác?
Đáp : Nếu là Tam thừa, thì chỉ trong thế giới này, trăm ức vạn đều là danh của Thích-ca. Còn thập phương giới thì có Phật danh khác. Nếu là Nhất thừa, thì tận hết pháp giới đều là danh của Lô-xá-na.
Hỏi : Nếu vậy, vì sao văn trên nói chư Phật ở mười phương thuyết pháp biết tâm hạnh v.v…?
Đáp : Vì đều là chỗ giáo hóa của Phật này, nên không có Phật khác. Lại, vì trong Thích-ca hải ấn mà hiện, nên không có Phật khác. Cũng có thể giải thích : Một Phật danh đã biến khắp mười phương, thì thập phương Phật còn lại, mỗi Phật cũng đều biến khắp mười phương như thế. Nếu là hàng có khí lượng Tam thừa thì nơi các Tứ thiên hạ, tùy mỗi nơi mà nghe danh hiệu Phật của nơiù đó, chưa chắc biết được danh hiệu Phật ở các nơi khác. Nhưng nếu là hàng có căn khí Nhất thừa, thì nhất thời đốn nhận tất cả danh hiệu, vì là danh hiệu ứng với mọi căn cơ, mỗi căn cơ thọ nhận đều là Phổ Hiền cơ. Một căn cơ tức là tất cả căn cơ.
Danh hiệu này, nếu là Tiểu thừa, thì là thật danh. Nếu là Tam thừa Sơ giáo, thì nó giả danh hay không danh. Nếu là Chung giáo, thì danh này bình đẳng đồng với chân như. Kinh nói: “Danh tự tánh ly gọi là giải thoát”. Nếu là Đốn giáo, thì tất cả đều dứt, danh và vô danh cả hai đều ly. Nếu là Viên giáo, thì tất cả cũng ly mà không ngại danh. Nay, một danh là tất cả danh. Tất cả danh nhập một danh, không hoại, không chướng, nhiếp hết tất cả pháp giới, là lưới nhân-đà-la danh.
Hỏi : Đại thiên giới này, theo các kinh luận khác, trong Đại vi sơn bằng khắp và có trăm ức Tứ thiên hạ. Vậy phương trên phương dưới không được còn có Tứ thiên hạ. Nếu trên dưới đều có, thì mỗi Tứ thiên hạ đều có trên dưới, thành ra có đến ba trăm ức. Vì sao chỉ nói một trăm ức?
Đáp : Nếu là Tiểu thừa, là thật xứ, lý không biến đổi. Nếu là Tam thừa thì tuy là không, đồng với chân như, mà không ngại sự nên không hoại bản sự. Nếu là Nhất thừa, thì sự vô ngại, dung biến, tự tại. Cho nên, xứ được nói đây là tùy giáo mà viên dung, ứng với thập số để hiển vô tận. Một thế giới Sa-bà này có hai loại dung :
a. Lấy chỗ thuyết pháp làm trung tâm, lập thành chủ bạn dung trăm ức đó khiến có trên dưới, liền được đầy đủ, nên không có ba trăm.
b. Ở phía cực đông gần bờĐại vi sơn, một Tứ thiên hạ là một chủ thuyết pháp. Đó là trung tâm dung các Tứ thiên hạ khác, vẫn có đầy đủ quyến thuộc ở mười phương. Vì các Tứ thiên hạ đều lấy tha làm bạn, lấy tự làm chủ nên Đại vi sơn cũng tùy đó mà viên dung, dịch đổi. Nghĩa viên dung ở thập phương giới cứ theo đó mà hiểu. Đây thuộc Nhất thừa giáo. Nếu là Tam thừa thì không thể như thế mà như các kinh luận khác đã nói.
SA-BÀ, đây gọi là Kham Nhẫn. Kinh Bi Hoa nói: “Ở đó chúng sinh tham sân si … hơn cõi Phạm vương, cần phải nhẫn nó, nên lấy đó làm tên”.
TU-BỒ-ĐỀ : Đây gọi là Thiện Thật.
HA-NI : Đây gọi là xả hay sinh diệt. Vì tiếng bản xứ dịch ra, nên khó cố định.
BÀ-GIÀ-BÀ : Có sáu nghĩa ...
Y-NA-BÀ-NA : Đây gọi là Vương Lâm. Vì khi Phật còn là thái tử, sinh ra trong rừng này, nên lấy đó làm tên.
2. Giải thích lý do : Đoạn “Đó đều do …” Phân làm ba : Đầu, trả lời cho các căn cơ. Kế, là thí hóa. Sau, là hóa ý.
1. Trả lời cho các căn cơ : Có hai ý.
a. Danh hiệu Phật trùm khắp pháp giới, còn tự chúng sinh lại y nơi Phật hữu duyên có thể giáo hóa chúng sinh mà có sai biệt, không phải là tất cả.
b. Các căn cơ này sao có duyên với Phật? Vì Phật xưa kia nhiều kiếp tu hành, thấy, nghe, tùy hỉ v.v… nên có duyên.
2. Thí hóa : Có 5 câu.
a. Tổng thuyết tam luân nhiếp hóa thiện xảo. Cũng là thân hiện uy nghi. Vì nhiếp sinh nên nói MỌI THỨ PHƯƠNG TIỆN.
b. Nói về ngữ nghiệp phương tiện. Cũng là ngữ nghiệp Phạm âm v.v…
c. Nói về thân nghiệp phương tiện. Cũng là nói về pháp được thuyết : Vì Nhân Thiên mà thuyết nghiệp báo v.v… vì Nhị thừa mà thuyết quyền đạo, là Tứ đế v.v...
d. Nói về ý nghiệp phương tiện
e. Thí hóa xứng căn.
3. Hóa ý : Dù thuyết pháp Nhân, Thiên hay Nhị thừa v.v… thì ý đều là muốn chúng sinh biết pháp của Như Lai.
Các tin khác
-
» TỨ ĐẾ - Phẩm 4 (31/03)
-
» NHƯ LAI QUANG MINH GIÁC - Phẩm 5 (31/03)
-
» MINH NẠN - Phẩm 6 (31/03)
-
» TỊNH HẠNH - Phẩm 7 (31/03)
-
» BỒ TÁT HIỀN THỦ - Phẩm 8 (31/03)
