Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký Q2
THẾ GIAN TỊNH NHÃN - Phẩm 1 (Phần 1)
Nói về THỜI & XỨ & CHỦ (Giải thích một thời, mới thành chánh giác v.v...)
12/07/2017
Phẩm 1 - phần 1
(Xem tại đây)
Sa môn Pháp Tạng thuyết
II. “MỘT THỜI ...” THÔNG CẢ HAI TỰ PHẦN
MỘT THỜI … trở về sau thông cả hai tự phần, chính là 4 nghĩa sau trong 6 nghĩa thành tựu nói trên. Sẽ đồng nói về 3 nghĩa đầu là Thời, Chủ và Xứ. Sau cùng, nói riêng về Chúng đồng nghe. Đây cũng là tướng tam thế gian cần phải biết.
Trong phần Thời, Chủ, Xứ có hai : Trước, nêu đủ 3 tướng. Sau, giải thích riêng 3 nghĩa. Vì sao có hai môn này? Xét về XỨ, trước thì nêu chung nhiễm tịnh, sau chỉ hiển riêng tướng tịnh. Trước là y vào nhiễm. Sau, nói riêng về tịnh. THỜI thì có đầu cuối. XỨ thì có nhiễm tịnh. PHẬT thì có quyền thật. Nên cần phân lọc lại.
II/A. THỜI, XỨ VÀ CHỦ
1. Nêu đủ ba tướng Thời, Xứ và Chủ.
1.1/ MỘT THỜI, theo luận Phật Địa, đó là một sát-na hoặc nhiều sát-na tương tục. Song chỉ nhắm vào chỗ rốt ráo nói và nghe mà giả lập tên chung là MỘT THỜI. Với Tiểu thừa là thật thời. Với Đại thừa là giả nói. Nếu giải thích theo Lương Nhiếp Luận thì MỘT THỜI có 3 nghĩa:
1/ Bình đẳng thời: Vì không có chìm nổi điên đảo.
2/ Hòa hợp thời: Khiến cho nghe và năng nghe đang nghe.
3/Chuyển pháp luân thời : Đang thuyết đang thọ nhận.
1.2/ PHẬT, là giác. Có hai nghĩa :
1. Bản giác và thủy giác : Luận nói: “Như hoa sen nở, như ngủ thức dậy …”. Đầu là giác sở tri. Sau là giác phiền não.
2. Tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn : Kẻ có giác gọi là giác giả, cũng gọi là Bà-già-bà.
. Theo luận Đại Trí Độ, Bà-già-bà có 4 nghĩa :
1/Có đức : Bà-già là đức. Bà là có.
2/Khéo phân biệt : Bà-già là phân biệt. Bà là khéo.
3/Có thanh danh : Bà-già là thanh danh. Bà là có.
4/Năng phá dâm, nộ, si : Bà-già là năng phá. Bà là dâm, nộ, si. Trong 4 thứ này thì thứ đầu là tổng, ba thứ còn lại là biệt. Trong 3 thứ biệt, đầu là trí đức, kế là phúc đức, sau là đoạn đức.
. Theo luận Phật Địa, Bà-già-bà có 6 nghĩa. Tụng rằng: “Tự tại, sí thạnh và đoan nghiêm / Danh xưng, cát tường, và tôn quí / Đầy đủ cả sáu nghĩa sai biệt / Cho nên, gọi chung Bạc-già-bà ”. Đã giải thích kỹ trong luận đó.
. Tam tạng Chân Đế dẫn luận Chân Thật, giải thích Bà-già-bà có 10 nghĩa: Phật là giác thắng, thiên cổ v.v…
1.3/ XỨ, nói chung là nước (quốc gia), nói riêng là đạo tràng. Luận Đại Trí Độ nói: “Đắc A-nậu-bồ-đề nơi tụ lạc Trắc-âu-lâu-tần-loa, bên sông Ni-liên-thiền, nước Ma-già-đà …”. Đây, gọi là Bất Hại Quốc. Vì trong nước này, những ai phạm tội chỉ bị đuổi đi, không có tử hình. Hình ảnh đó nói lên tướng từ tế của đại pháp. Có khi gọi là nước Thiện Thắng. Có khi gọi là Ma-già, là tên của một vì sao. Đây nói là Bất Ác, là sao chủ của tháng mười hai. Đà là Xứ, nên gọi là nước Bất Ác Xứ, cũng gọi là nước Tinh Xứ.
TỊCH DIỆT có bốn nghĩa :
1. Chướng diệt : Tánh diệt và trị diệt.
2. Chứng diệt : Chứng lý diệt.
3. Hiển đức diệt : Thị hiện thập thân Phật và các pháp Phổ Hiền v.v… Kinh nói: “Đại Bát Niết-Bàn có thể kiến lập đại nghĩa …”.
4. Ích vật thành diệt.
ĐẠO TRÀNG có bốn nghĩa :
1. Sự xứ.
2. Hạnh : Như kinh nói bố thí là đạo tràng v.v...
3. Lý : Như kinh Duy Ma nói tất cả pháp là đạo tràng, vì biết tất cả pháp là không.
4. Thông tất cả pháp : Là tất cả nhân, pháp v.v… y theo đó đều được đạo xứ, gọi là đạo tràng.
ĐẠO TRÀNG, thuộc Y chủ thích. Như sân phơi lúa (cốc tràng) ở thế gian sàn đi những hạt lép và cỏ dại mà lọc lấy các hạt chắc. Đây cũng như thế. Diệt hoặc thành đức. Cũng có thể là : ĐẠO tức là TRÀNG, thuộc Trì nghiệp thích.
Nghĩa SỰ XỨ của ĐẠO TRÀNG là, như luận Câu-xá nói: “Ở giữa châu Diệm-phù, từ trên đất kim cang khởi lên tòa kim cang san bằng đất và các bờ cao của châu Diệm-phù. Tất cả Bồ-tát ở nơi đó đang tu tập chánh định kim cang. Vì sao? Vì không chỗ y chỉ nào khác có thể chịu được loại chánh định này”. TẤT CẢ BỒ-TÁT, là hàng ngàn Bồ-tát ở hiền kiếp.
2. Giải thích riêng ba nghĩa : Từ “Mới thành chánh giác …” trở đi. Trước, giải thích về Thời. Kế, nói về Xứ. Sau, nói về Chủ.
2/1 THỜI có 5 môn : 1/Định phần hạn. 2/Nhiếp trước sau. 3/Hiển sai biệt. 4/Biểu thị pháp. 5/Giải thích chánh văn.
1. Định phần hạn: Bồ-đề Lưu-chi nói: “Trong 8 hội Hoa Nghiêm, 5 hội trước là Phật thành đạo nói trong tuần đầu. Từ hội VI về sau nói trong tuần thứ hai. Vì phần đầu kinh Thập Địa nói tuần thứ hai”. Lại có người nói: “Hội VIII thuyết vào hậu thời. Vì trong kinh có 500 Thanh văn như Thu Tử v.v… đều được độ ở hậu thời”. Những phán quyết đó e không thuận với kinh. Vì tuần đầu nhất định không thuyết pháp. Luận Thập Địa nói: “Vì sao không thuyết trong tuần đầu? Vì tư duy hạnh và nhân duyên hạnh”. Đã nói TƯ DUY thì rõ ràng không phải thuyết pháp. Lời nói trên, dù có vớt vát, cũng chỉ có thể nói là không thuyết Thập địa, không thể nói không thuyết các pháp khác. Vậy không thể nói là TƯ DUY. Phần sau của luận lại giải thích: “Vì hiển pháp lạc của mình nên không thuyết”, thì biết tuần đầu nhất định không thuyết pháp. Lại, hội VIII cũng không thuyết vào hậu thời. Vì trong một bộ kinh, sao có thể trước chỉ thuyết một nửa, giữa nói phần kinh khác, sau mới tiếp tục? Lẽ nào cho Phật không có lực đà-la-ni, không thể trong nhất niệm có thể thuyết tất cả pháp. Thu Tửở Kỳ Viên đều là chín đời tương nhập. Văn sau nói kệ: “Tất cả kiếp quá khứ, trụ vị lai hiện tại, tất cả kiếp vị lai, trụ lại thời quá khứ”. Cũng nói: “Ở trong nhất niệm, kiến lập tất cả, Phật sự ba đời” … Các văn như thế mọi chỗ đều có. Há có thể vì việc Thu Tửđược độở Kỳ Viên mà cho không phải là những thứ đó. Thì biết, kinh này nhất định là nói trong tuần thứ hai.
2. Nhiếp trước sau : Có ba lớp.
1. Tuần thứ hai nhiếp hết 8 hội, đồng thời thuyết.
Hỏi : Nếu vậy, vì sao hội lại có trước sau?
Đáp : Như in ấn văn tự. Đọc thì có trước sau nhưng in vào giấy thì đồng thời.
Hỏi : Nếu như thế thì sao trùng hội thành được?
Đáp : Trùng hội cũng đồng thời, vì vô ngại. Như ánh sáng các đèn hòa nhập nhau.
Các thứ bất động, thăng thiên v.v… còn lại, y đó mà giải thích thì có thể hiểu.
2. Tuần thứ hai nhiếp hết 8 hội, nhưng có trước sau : Trong vô lượng kiếp không gì là không tận. Vì là thời giải thoát không thể nghĩ bàn.
3. Nhiếp trùng trùng vô lượng niệm kiếp : Như lưới Nhân-đà-la lớp lớp thu nhiếp.
3. Hiển sai biệt:
. Theo kinh Phổ Diệu, vào tuần thứ hai, Phật ở nơi vườn Lộc Dã vì 5 đệ tử ba lần chuyển pháp Tứ đế. Đây thuộc Tiểu thừa.
. Theo kinh Mật Tích Lực Sĩ thì tuần thứ hai, nơi vườn Lộc Dã, Phật vì vô lượng đại chúng chuyển pháp luân, có người được đạo La-hán, có người được đạo Bích-chi và Bồ-tát. Đây thuộc Tam thừa.
. Theo kinh Hoa Nghiêm, tuần thứ hai ở dưới thọ vương vì chúng Bồ-tát hải hội chuyển vô tận pháp luân. Chính là Nhất thừa.
Ba thứ trên đồng thời : Ứng vào pháp, biểu thị cho gốc và ngọn đồng thời. Ứng vào người, hiển tùy cơ cảm mà mỗi thứ có khác : Kinh Pháp Hoa thì 3 tuần mới thuyết, luật Tứ Phần thì 6 tuần, kinh Hưng Khởi Hạnh thì 7 tuần, luật Ngũ Phần thì 8 tuần, luận Đại Trí Độ thì 50 tuần, kinh Thập Nhị Du thì một năm. Đây đều thuộc phần giáo ngọn, tùy căn cơ mà có sai khác. Có lẽ, do thấy nghe khác nhau, nên dẫn đến việc không đồng. Hạng có căn cơ thuộc giáo gốc thì cố định, nên chỉ trong tuần thứ hai.
4. Biểu thị pháp :
Luận Thập Địa nói: “Thời, xứ v.v… là hiệu lượng hiển thị cho sự thù thắng. Vì pháp này thù thắng nên được nói vào thời đầu và tại thắng xứ” . Có ba nghĩa :
a. Kinh này nhắm vào thời đầu, là muốn hiển thị pháp gốc thù thắng.
b. Phần giáo ngọn cũng đồng, là muốn biểu trưng ngọn không lìa gốc.
c. Hiển thị gốc không phải ngọn, vì với phần giáo ngọn thì thời không cố định. Còn với pháp gốc thì thời cố định trong tuần thứ hai, hoàn toàn không thay đổi, không như phần giáo ngọn.
5. Giải thích văn :
MỚI THÀNH CHÁNH GIÁC là muốn nói đến nghĩa ban đầu. Đây có hai tướng :
1. Tuần đầu : Nói về cái bắt đầu ở hiện thế.
2. Tuần thứ hai : Hiển việc bắt đầu thuyết pháp.
THÀNH CHÁNH GIÁC đến nay trải qua 7 ngày, nên nói MỚI THÀNH CHÁNH GIÁC. Chung hết thì có năm nghĩa :
1. Ứng với Tiểu thừa : Sanh thân Phật ở dưới cây này trải qua 34 tâm MỚI THÀNH CHÁNH GIÁC, đồng với các vị La-hán, là thật thành không phải hóa hiện.
2. Ứng với Đại thừa : Thị hiện 8 tướng hóa thân, bấy giờ MỚI THÀNH CHÁNH GIÁC.
3. Ứng vào báo thân : Thập địa hạnh mãn, hậu quả vô gián đạo hiển hiện tròn sáng, gọi là MỚI THÀNH CHÁNH GIÁC.
4. Ứng vào pháp thân : Vừa được liễu nhân tối sơ viên hiện, nên nói MỚI THÀNH CHÁNH GIÁC. Cái MỚI thuộc phần thượng Đại thừa này đều không có mới.
5. Ứng vào thập Phật : Biến khắp tất cả vô biên thế giới như lưới Nhân-đà-la. Từng niệm từng niệm đều MỚI THÀNH CHÁNH GIÁC, đầy đủ chủ bạn, trùm khắp tam thế gian. Cho nên thu nhiếp đầy đủ trước sau cái mới của vô lượng kiếp. Chỉ có lớp này là nhiếp luôn bốn lớp trước. Vì năm lớp này không lìa nhau, vì nhiếp phương tiện.
Từ “Đất kim cang …” trở đi là giải thích riêng về xứ.
2/2 XỨ có 5 môn : 1/Xác định xứ. 2/Biện về nhiếp và nhập. 3/Hiển sai biệt. 4/Biểu thị pháp. 5/Giải thích văn.
1. Xác định xứ :
Hỏi : Nói XỨ của kinh này hoặc là tịnh độ hoặc là nhiễm giới. Nói vậy có lỗi không? Cả hai đều có lỗi. Vì sao? Nếu là tịnh độ, sao văn trước nói đến nước Ma-kiệt-đề, văn sau lại nói đến Diêm-phù-đề của Tứ thiên hạ v.v… Do đây mà biết không thể là tịnh độ. Nếu là nhiễm độ thì sao văn sau lại nói đến Liên Hoa tạng thế giới hải với 6 loại và 8 tướng chấn động? Thì biết xứ của kinh này không phải là nhiễm độ. Với sự trái nghịch như thế, chỉ định thế nào?
Đáp : Theo kinh này, nhiễm độ và tịnh độ dung hợp tương nhiếp. Có bốn câu :
. Hoặc chỉ có Sa-bà : Vì gốc theo ngọn.
. Hoặc chỉ có Hoa tạng : Vì ngọn theo gốc.
Hai thứ này như đã nói trên.
. Hoặc cả hai cùng hiện : Vì y nơi Hoa tạng mà có Sa-bà, nhiễm tịnh tương phân, ngọn y vào gốc. Như văn sau nói: “Trong Hoa tạng giới, thế giới Sa-bà”, chính là chỗ này.
. Hoặc cả hai đều dứt : Vì thành tựu quả hải không thể nói.
Bốn môn trên hợp làm một độ, dung hợp vô ngại, tùy duyên mà nói đều được.
2. Luận về nhiếp nhập :
1. Luận về dung nhiếp : Có ba lớp.
a. Dưới CÂY BỒ-ĐỀ, là nhiếp hết 8 hội đủ cả nhân gian và thiên giới, nên đều nói KHÔNG LÌA ĐÂY.
b. Nhiếp hết thảy Phật độ vô dư ở mười phương, đều không lìa thọ vương này.
c. Nhiếp các độ trùng trùng vô tận (như lưới châu của trời Đế Thích) vào trong lỗ lông, bụi nhỏ v.v… Vì đều là sở nhiếp của Liên Hoa tạng giới này.
2. Luận về dung nhập : Có ba nghĩa. Là dung cây bồ-đề này nhập vào 3 xứ sở nhiếp trên.
3. Hiển sai biệt : XỨ mà Phật thuyết kinh có ba :
1. Chỉ có 16 đại quốc thuộc tam giới, là chỗ hóa thân thuyết pháp. Đây chung cho cả giáo Tiểu thừa và Tam thừa.
2. Chỉ có các tịnh độ vi diệu ngoài tam giới, là chỗ báo thân - với 18 thứ viên mãn trong Thọ dụng độ - thuyết pháp. Như các kinh Phật Địa v.v… Tịnh độ vi diệu này không nhiếp thuộc tam giới mà cũng không lìa tam giới. Vì khắp tất cả xứ. Đây là chung cho cả giáo Tam thừa và Nhất thừa.
3. Hoa tạng giới, với nhiễm tịnh viên dung như lưới châu vô tận của trời Đế Thích, là chỗ thập Phật thuyết pháp. Y báo chánh báo dung hợp đầy đủ tam thế gian. Chỗ này chỉ có Nhất thừa Biệt giáo thuyết. Nay nói đây đáng ra chỉ có một thứ sau cùng này. Song nhiếp luôn hai thứ trước, vì gốc và ngọn không lìa nhau.
4. Biểu thị pháp : Nương vào thắng xứ, là muốn hiển thị pháp được nói đây thù thắng. Địa Luận nói: “Pháp này thù thắng, thuyết tại thắng xứ”. Pháp thù thắng có 3 lớp :
1/ Dưới cây này đắc bồ-đề mà không thuyết pháp, là muốn hiển thị sở thuyết như sở đắc, không theo căn cơ sai biệt mà dời đổi như những gì được thuyết ở vườn Lộc Dã.
2/ Y vào Liên Hoa tạng giới viên dung, là muốn hiển thị tính viên mãn thù thắng của pháp được thuyết khai mở.
3/ Y vào xứ trùng trùng như lưới châu trời Đế Thích, là muốn hiển thị pháp được nói cũng trùng trùng vô tận, như phẩm Bất Tư Nghị Giải Thoát v.v… Các nghĩa còn lại được nói trong chương nói về các thế giới thuộc phần sau.
5. Giải thích văn : Có ba : 1/Đất đạo tràng. 2/Trên đất có cây bồ-đề. 3/Dưới cây có tòa sư tử.
Như vậy, ĐẤT là nền tảng y tựa (sở y bản) của hạnh. CÂY là hạnh đức kiến lập. TÒA là hạnh dụng nhiếp hóa làm lợi ích cho chúng hữu tình. Theo tánh Duyên khởi, mỗi thứ đều dung nhiếp tất cả pháp. Song theo văn kinh, ba vị này mỗi vị dùng 10 môn phân biệt.
1. ĐẤT ĐẠO TRÀNG : Có ba phần là nêu lên, giải thích và kết luận.
A. Nêu ra : Nêu ĐẤT KIM CANG là muốn nói đến thể của đất. Thể rất bền chắc. Văn sau nói: “Đất kim cang chắc, không thể phá hoại” chính là đây. ĐẦY ĐỦ NGHIÊM TỊNH là hiển công đức của đất kim cang. Tướng của nó không gì không nghiêm, như văn sau nói: “Đất Liên Hoa tạng giới … nhiếp hết phong luân, hương, hải, liên hoa vương v.v… lấy đó nghiêm tịnh”. Trên đất có đủ diệu báu, quang minh, hương, sông, cây, lưới v.v… Như thế trên dưới, tịnh đức đều viên mãn, nên nói ĐẦY ĐỦ. Tức cấu uế đều hết, nên nói TỊNH. Mọi đức đều viên mãn, nên nói NGHIÊM.
B. Giải thích : Có 10 câu, hiển 10 loại nghiêm tịnh : 1/Hoa báu nghiêm tịnh. 2/Bảo luân nghiêm tịnh. 3/Diệu sắc nghiêm tịnh. 4/Tràng, phan v.v… nghiêm tịnh. 5/Hương man nghiêm tịnh. 6/Lưới báu nghiêm tịnh. 7/Mưa báu nghiêm tịnh. 8/Hoa cây nghiêm tịnh. 9/Phật lực nghiêm tịnh. 10/Kỳ đặc nghiêm tịnh. Đủ 10 loại nên nói ĐẦY ĐỦ NGHIÊM TỊNH.
1/ HOA BÁU nghiêm tịnh : Là câu “Nhiều loại hoa báu …” . Có đủ 4 nghĩa : Vi diệu, khai mở, ra quả, nghiêm tịnh. Văn sau nói: “Hoa báu phủ khắp tất cả đất / Đều hay trưởng dưỡng công đức Phật”.
2/ BẢO LUÂN nghiêm tịnh : Có đủ năm nghĩa: 1/Đầy tròn, vì không khuyết giảm. 2/Nhiếp đức, vì nan hoa, vành bánh v.v… đều đủ. 3/Chuyển động, vì từ chỗ này đến chỗ khác. 4/Nghiền hoặc, vì như con lăn tán thuốc. 5/Hàng phục, vì như bảo luân của Thánh vương. Báu còn có nghĩa là đáng quí. Văn sau nói: “Hoa báu thành diệu sắc / Trang nghiêm quang minh luân / Đầy hết các pháp giới / Mười phương thảy đều khắp”.
3/ SẮC TƯỚNG nghiêm tịnh : DIỆU SẮC có đủ bốn nghĩa : 1/Sáng chói, vì đầy đủ hình hiện. 2/Tức không, vì bao hàm hư không mà lập. 3/Đầy đủ công đức, vì một nhiếp tất cả. 4/Hữu dụng, vì chúng sinh thấy nghe đều được thắng ích. Loại này nhiều thứ nên nói VÔ LƯỢNG. Không gì không nghiêm sức nhau nên nói TRANG NGHIÊM. Nghĩa là, khí này rộng mà sâu như biển, tích chứa công đức bao hàm nhuận ích vô biên, nên nói NHƯ ĐẠI HẢI. Có thể dùng 10 tướng của đại hải để nói ở đây. Trong phần văn kinh sau, tên THẾ GIỚI HẢI là từ chỗ này mà lập.
4/ TRÀNG, PHAN v.v… nghiêm tịnh : Là 4 nghĩa tràng, phan, lộng và ánh sáng. TRÀNG có hai nghĩa là cao vượt và hàng phục, như tràng của Đế Thích. PHAN có hai nghĩa là cờ xí và tùy duyên. LỘNG cũng có hai nghĩa là hiển sự thù thắng và che mát. ÁNH SÁNG cũng có hai nghĩa là trừ tối và chiếu hiện. Văn sau có kệ: “Ở trong tràng báu có quang minh / Rủ cờ phan báu mà trang nghiêm”.
5/ HƯƠNG MAN nghiêm tịnh : DIỆU HƯƠNG là nghĩa thơm nức. DIỆU HOA là nghĩa khai mở. DIỆU MAN là nghĩa xuyên suốt. Dùng ba sự này bày khắp chung quanh mà thành tựu việc cúng dường. Dùng hoa có diệu hương xâu lại mà thành chuỗi (man), buông tràng khắp bốn phía để thành tựu trang nghiêm. Văn sau nói: “Treo chuỗi tạp hoa để trang nghiêm”.
6/ LƯỚI BÁU nghiêm tịnh : LƯỚI thì tàng phủ trang nghiêm. Văn sau nói: “Bảo luân và lưới báu phủ bên trên”. Theo kinh Xưng Tán Tịnh Độ, THẤT BẢO là vàng, bạc, lưu ly, pha lê, chân châu đỏ, a-thấp-ma-yết-lạp-bà, mâu-sà-đà-yết-lạp-ba.
7/ MƯA BÁU nghiêm tịnh : Thứ được mưa thì nhiều và khắp. Tất cả đều thành dụng pháp môn, nên nói TỰ TẠI. Hiện thân thuyết pháp chính là chỗ này.
8/ CÂY BÁU nghiêm tịnh : Là nghĩa kiến lập các đức. Văn sau nói: “Cây báu thanh tịnh mây trang nghiêm. Chiếu khắp soi rõ tất cả thân” nên SÁNG ĐẸP vậy.
9/ PHẬT LỰC nghiêm tịnh : THẦN LỰC CỦA PHẬT, là nêu bày sở nhân. KHIẾN ĐẤT ĐẠO TRÀNG NÀY … là để rõ sở thành : Một là khiến thể rộng. Hai là tướng nghiêm. Ba là dụng chiếu. Văn sau nói: “Tất cả thế giới hải. Có vô lượng bảo luân. Trang nghiêm vô biên sắc. Như Lai thần lực khởi”.
10/ KỲĐẶC nghiêm tịnh : Theo luận Đại Trí Độ báu có 3 loại :
. Nhân bảo : Như châu báu của Luân vương có thể làm vật để mưa
. Thiên bảo : Là sở hữu của chư Thiên, đều có thể sai sử hô hoán.
. Bồ-tát bảo : Có thể khiến thuyết pháp độ người.
Nay báu của Bồ-tát, so với Nhân Thiên trên đã kỳ đặc, huống là báu được sinh ra từ vô tận thiện căn của Như Lai, đều rất kỳ đặc. Vì đó là pháp môn, lại là sự báu.
C. Tổng kết : Một câu “Vô lượng … đạo tràng”. Vì thiện căn không hạn lượng nên xuất sinh vật dụng nghiêm tịnh cũng không hạn lượng, cho nên nói VÔ LƯỢNG THIỆN CĂN TRANG NGHIÊM ĐẠO TRÀNG . Cũng lấy chính thiện căn đó dùng trang nghiêm, như văn sau nói: “Lấy trăm vạn ức mây Ba la mật cùng với mây thiện căn trang nghiêm tòa báu”. Đây cũng đồng với đó.
VÔ LƯỢNG, văn sau nói: “Hạnh quá khứ của Lô-xá-na / Khiến Phật sát hải rất thanh tịnh / Vô lượng vô số vô biên tế / Tất cả xứ kia tự tại chuyển”.
Các nghĩa còn lại, đến phẩm sau sẽ giải thích rộng. Trong đó cũng có 6 tướng là tổng, biệt, đồng, dị, thành, hoại. Có thể theo đó mà hiểu.
Giải thích “Đất đạo tràng” xong.
Các tin khác
-
» GIỚI THIỆU (31/03)
-
» THẾ GIAN TỊNH NHÃN - Phẩm 1 (Phần 1) (31/03)
-
» THẾ GIAN TỊNH NHÃN - Phẩm 1 (Phần 1) (31/03)
-
» THẾ GIAN TỊNH NHÃN - Phẩm 1 (Phần 1) (31/03)
-
» THẾ GIAN TỊNH NHÃN - Phẩm 1 (Phần 1) (31/03)
-
» THẾ GIAN TỊNH NHÃN - Phẩm 1 (Phần 1) (31/03)
-
» THẾ GIAN TỊNH NHÃN - Phẩm 1 (Phần1) (31/03)
-
» THẾ GIAN TỊNH NHÃN - Phẩm 1 (Phần 1) (31/03)
-
» THẾ GIAN TỊNH NHÃN - Phẩm 1 (Phần 1) (31/03)
-
» THẾ GIAN TỊNH NHÃN - Phẩm 1 (Phần 1&2) (31/03)
